Type 66
Type 66 là pháo xe kéo cỡ nòng 152 mm của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Pháo được phát triển dựa trên pháo xe kéo D-20 của Liên Xô. In Ngoài đạn pháo thông thường, pháo còn có khả năng bắn đạn pháo đẩy bằng động cơ rocket MP-152. Trong một số trường hợp, tấm chắn pháo được lắp đặt nhưng điều này không phổ biến.
| Type 66 | |
|---|---|
Được trưng bày tại Bảo tàng Hàng không Flying Leatherneck, California. | |
| Loại | Lựu pháo |
| Nơi chế tạo | China |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | |
| Sử dụng bởi | See operators |
| Lược sử chế tạo | |
| Nhà sản xuất | Norinco |
| Thông số | |
| Chiều dài | 8,69 m (28,5 ft) |
| Chiều rộng | 2,42 m (7 ft 11 in) |
| Chiều cao | 2,52 m (8 ft 3 in) |
| Kíp chiến đấu | 12 |
| Cỡ đạn | 152,4 mm (6,00 in) |
| Cơ cấu hoạt động | Cơ cấu khóa nòng kiểu khối trượt theo phương thẳng đứng |
| Bệ pháo | Giá càng tách ra hai bên khi vào vị trí bắn |
| Góc nâng | +45°/-5° |
| Xoay ngang | 58° |
| Tốc độ bắn | 8 phát/phút |
| Tầm bắn xa nhất | 17.230 m (18.840 yd) |
| Ngắm bắn | Panoramic, telescopic |
| Tham khảo | [1] |
Type 66 là pháo xe kéo cỡ nòng 152 mm của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Pháo được phát triển dựa trên pháo xe kéo D-20 của Liên Xô. In Ngoài đạn pháo thông thường, pháo còn có khả năng bắn đạn pháo đẩy bằng động cơ rocket MP-152.[2] Trong một số trường hợp, tấm chắn pháo được lắp đặt nhưng điều này không phổ biến.[2]
Thiết kế
[sửa | sửa mã nguồn]Pháo-lựu Type 66 152 mm (6,0 in) là bản sao của Trung Quốc đối với pháo-lựu D-20 của Liên Xô do Norinco chế tạo với một vài khác biệt nhỏ về ngoại hình.[1] Nó có nòng dày, chắc chắn đặc trưng với bộ phận hãm lớn ở đầu nòng.[3]
Type 66 thường được kéo bởi xe tải 6×6 với tốc độ lên tới 60 km/h (37 mph). Giá đỡ súng có thiết bị ngắm toàn cảnh Type 58 với độ phóng đại × 3,7 và góc nhìn 10°, bộ chuẩn trực Type 58 và kính ngắm viễn vọng Type 66 với độ phóng đại ×5,5 và góc nhìn 11°. Giá đỡ cũng có một bánh xe xoay được gắn trên mỗi càng để giúp kíp lái triển khai pháo. Trong trạng thái vào vị trí bắn, các bánh xe phụ (castor) được đặt tựa lên phía trên mỗi càng pháo; đồng thời, một kích bắn dạng tròn ở trung tâm cùng hai lưỡi xẻng (mỗi lưỡi gắn ở một càng pháo) sẽ tiếp đất để cố định và chịu lực cho khẩu pháo.[4]
Pháo Type 66 có thể bắn các loại đạn: nổ mạnh (HE), đạn khói và đạn chiếu sáng, sử dụng hệ thống liều phóng bao rời với 6 mức liều khác nhau.
Ngoài ra, pháo còn có khả năng bắn đạn pháo tăng tầm bằng động cơ phản lực (RAP) MP-152 để mở rộng tầm bắn. Phía Trung Quốc tuyên bố rằng độ chính xác của loại đạn pháo này tương đương với đạn thông thường.[5] Ngoài ra, pháo còn có khả năng bắn đạn dẫn đường chính xác (precision-guided munitions), tuy nhiên loại đạn này hiện có số lượng hạn chế và không phải lúc nào cũng sẵn sàng sử dụng..[6]
Mặc dù Type 66 phần nào đã lạc hậu so với các hệ thống pháo hiện đại, nhưng đây vẫn là một hệ thống đơn giản, bền bỉ, có khả năng hoạt động trong điều kiện khắc nghiệt với yêu cầu bảo dưỡng tối thiểu. Theo các nguồn của Lục quân Hoa Kỳ, nếu “được sử dụng đúng cách và triển khai với số lượng lớn”, nó vẫn có thể tạo ra hỏa lực mang tính quyết định trên chiến trường.[7]
Các phiên bản
[sửa | sửa mã nguồn]- Type 83 SPH − Phiên bản pháo tự hành bánh xích với pháo Type 66.[8] Theo các nguồn của Lục quân Hoa Kỳ, đây là một khẩu Type 66 được tích hợp (lắp ghép) lên một khung gầm xe chiến đấu bọc thép kiểu Liên Xô tiêu chuẩn.[6]
Các nước vận hành
[sửa | sửa mã nguồn]Hiện nay
[sửa | sửa mã nguồn]
Trung Quốc − 500 hệ thống tính đến năm 2024[cập nhật][9]
Sri Lanka − 46 hệ thống tính đến năm 2024[cập nhật][9]
Former
[sửa | sửa mã nguồn]
Albania − 18 khẩu trong trang bị năm 2011[10]
Bolivia − 18 khẩu được chuyển giao năm 1992[11]
Iraq − Được sử dụng trong Chiến tranh Vùng vịnh[2]
Những con Hổ giải phóng Tamil − 9[12]
Ảnh
[sửa | sửa mã nguồn]-
Trong biên chế quân đội Sri Lanka.
-
Một khẩu pháo Type 66 của Iraq bị quân đội Anh thu giữ
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ a b Foss 2011, tr. 935.
- ^ a b c "Gun - 152 mm, Chinese Gun Howitzer Type 66 (1970-1990)". Collections. Royal Armouries. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2022.
- ^ Blasko 2006, tr. 130.
- ^ Foss 2011, tr. 935−936.
- ^ Foss 2011, tr. 936.
- ^ a b Department of the Army 2021, tr. B-2.
- ^ Department of the Army 2021, tr. B-3.
- ^ Foss 2011, tr. 799−801.
- ^ a b IISS 2024, tr. 256.
- ^ Foss 2011, tr. 974.
- ^ Foss 2011, tr. 973.
- ^ Humanitarian Operation Factual Analysis July 2006 – May 2009 (PDF). Ministry Of Defence Democratic Socialist Republic Of Sri Lanka. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2021.
Bibliography
[sửa | sửa mã nguồn]- Blasko, Dennis J. (2006). The Chinese Army Today: Tradition and Transformation for the 21st Century (bằng tiếng Anh). Routledge. ISBN 978-1-135-98877-7. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2025.
- Department of the Army, Headquarters (2021). ATP 7-100.3 Chinese Tactics (PDF). Washington, D.C.: Army Publishing Directorate.
- International Institute for Strategic Studies (ngày 12 tháng 2 năm 2024). "Chapter Five: Asia". The Military Balance. 124 (1): 218–327. doi:10.1080/04597222.2024.2298593. ISSN 0459-7222. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2025.
- Foss, Christopher F, biên tập (2011). Jane's Armour and Artillery 2011-2012 (bằng tiếng Anh). Jane's Information Group. ISBN 978-0-7106-2960-9.