Barcelona
Barcelona (tiếng Catalunya /bəɾsəˈlonə/; tiếng Tây Ban Nha /baɾθeˈlona/); tiếng Hy Lạp: Βαρκινών (Ptolemy, ii. 6. § 8); tiếng Latin: Barcino, Barcelo (Avienus Or. Mar.), và Barceno (Itin. Ant.) – là thành phố lớn thứ 2 Tây Ban Nha, thủ phủ của Catalonia và tỉnh có cùng tên. Thành phố tọa lạc tại Comarca của Barcelonès, dọc theo bờ Địa Trung Hải (41°23′B 2°11′Đ). Dân số thành phố 1,6 triệu, dân số tỉnh Barcelona là 5,3 triệu. Barcelona là đô thị đông dân đứng thứ sáu trong liên minh châu âu sau Paris, Luân Đôn, Madrid, vùng Ruhr và Milano. Barcelona cũng là thành phố lớn nhất ở Địa Trung Hải, nằm trên cửa các con sông Llobregat và Besòs, phía Tây giáp với dãy núi Serra de Collserola nơi có đỉnh cao nhất vào khoảng 512 mét (1680 feet). Từng là thành phố La Mã, vào thời Trung cổ, Barcelona đã trở thành thủ phủ của miền Barcelona. Sau đó được sáp nhập với Vương quốc Aragon, Barcelona tiếp tục là thành phố quan trọng trong Vương quyền Aragon. Từng bị xâm chiếm nhiều lần trong lịch sử, kết quả Barcelona có một di sản văn hóa tráng lệ, ngày nay nó trở thành trung tâm văn hóa quan trọng và là địa điểm du lịch nổi tiếng. Đặc biệt hơn với các công trình kiến trúc của hai vị kiến trúc sư Antoni Gaudí và Lluís Domènech i Montaner, được công nhận bởi UNESCO. Trụ sở của Liên Minh Địa Trung Hải cũng nằm ở đây. Barcelona còn là thành phố tổ chức thế vận hội mùa hè (Olympic) 1992 cũng như nhiều hội nghị, triễn lãm và các sự kiện thể thao khác. Barcelona là một trong các thành phố dẫn đầu về văn hóa, du lịch, kinh tế, tầm ảnh hưởng của Barcelona lên giáo dục,khoa học, thương mại, giải trí, truyền thông, thời trang và nghệ thuật khiến nó trở thành một trong những một đô thị toàn cầu (World's major globe city). Thành phố là trung tâm văn hóa, kinh tế của Tây-Nam châu Âu, đứng thứ 24 trên thế giới (trước Zürich và sau Frankfurt) và còn là một trung tâm tài chính lớn. Vào năm 2008, Barcelona xếp hạng thứ 4 trong các thành phố có ảnh hưởng về kinh tế dựa trên GPD của Liên Minh châu Âu (EU), và đứng thứ 35 trên thế giới, GPD vào khoảng 177 tỷ euro. Năm 2009, Barcelona được xếp hạng là một trong ba thương hiệu thành phố thành công nhất thế giới, thứ ba ở châu Âu. Thành phố đứng đầu ở Tây Ban Nha về tỉ lệ lao động và GPD trên đầu người năm 2012.
| Barcelona Barcelona Barcelona | |
|---|---|
| Tên hiệu: Ciutat Comtal | |
Vị trí của Barcelona | |
| Quốc gia | |
| Vùng | Vùng |
| Tỉnh | Barcelona |
| Quận (comarca) | Barcelonès |
| Chính quyền | |
| • Thị trưởng | Jordi Hereu i Boher (PSC) |
| Diện tích | |
| • Đất liền | 100,4 km2 (38,8 mi2) |
| Độ cao | 12 m (39 ft) |
| Dân số (2024)[1] | |
| • Tổng cộng | 1,686,208 |
| • Thứ tự ở Tây Ban Nha | 2 |
| Múi giờ | UTC+1, UTC+2 |
| • Mùa hè (DST) | CEST (GMT +2) (UTC+2) |
| Mã bưu chính | 08001-08080 |
| Mã điện thoại | 93 |
| Thành phố kết nghĩa | Boston, Cairo, Isfahan, Montpellier, Varna, Gaza, Dublin, Monzón, São Paulo, Montréal, Köln, Sankt-Peterburg, Buenos Aires, Athens, La Habana, Gdańsk, Algiers, Perpignan, Rio de Janeiro, Thượng Hải, Sevilla, Sarajevo, Antwerpen, Busan, Tirana, Tel Aviv, Valparaíso, Santo Domingo, Barcellona Pozzo di Gotto, Medellín, Kobe, Montevideo, Nizhny Novgorod, Istanbul, Perpignan Méditerranée Métropole, Ôn Châu, Dubai, Fes, Thành phố Hồ Chí Minh, Trujillo, Rosario, San Francisco, Monterrey, Kyiv |
| Số xứ (parroquia) | 10 |
| Số khu dân cư | 45 |
| Năm mật độ dân số | 2024 |
| Website | http://www.bcn.cat/ |
Barcelona (tiếng Catalunya /bəɾsəˈlonə/; tiếng Tây Ban Nha /baɾθeˈlona/); tiếng Hy Lạp: Βαρκινών (Ptolemy, ii. 6. § 8); tiếng Latin: Barcino, Barcelo (Avienus Or. Mar.), và Barceno (Itin. Ant.) – là thành phố lớn thứ 2 Tây Ban Nha, thủ phủ của Catalonia và tỉnh có cùng tên. Thành phố tọa lạc tại Comarca của Barcelonès, dọc theo bờ Địa Trung Hải (41°23′B 2°11′Đ / 41,383°B 2,183°Đ).
Dân số thành phố 1,6 triệu, dân số tỉnh Barcelona là 5,3 triệu. Barcelona là đô thị đông dân đứng thứ sáu trong liên minh châu âu sau Paris, Luân Đôn, Madrid, vùng Ruhr và Milano. Barcelona cũng là thành phố lớn nhất ở Địa Trung Hải, nằm trên cửa các con sông Llobregat và Besòs, phía Tây giáp với dãy núi Serra de Collserola nơi có đỉnh cao nhất vào khoảng 512 mét (1680 feet).
Từng là thành phố La Mã, vào thời Trung cổ, Barcelona đã trở thành thủ phủ của miền Barcelona. Sau đó được sáp nhập với Vương quốc Aragon, Barcelona tiếp tục là thành phố quan trọng trong Vương quyền Aragon. Từng bị xâm chiếm nhiều lần trong lịch sử, kết quả Barcelona có một di sản văn hóa tráng lệ, ngày nay nó trở thành trung tâm văn hóa quan trọng và là địa điểm du lịch nổi tiếng. Đặc biệt hơn với các công trình kiến trúc của hai vị kiến trúc sư Antoni Gaudí và Lluís Domènech i Montaner, được công nhận bởi UNESCO. Trụ sở của Liên Minh Địa Trung Hải cũng nằm ở đây. Barcelona còn là thành phố tổ chức thế vận hội mùa hè (Olympic) 1992 cũng như nhiều hội nghị, triễn lãm và các sự kiện thể thao khác.
Barcelona là một trong các thành phố dẫn đầu về văn hóa, du lịch, kinh tế, tầm ảnh hưởng của Barcelona lên giáo dục,khoa học, thương mại, giải trí, truyền thông, thời trang và nghệ thuật khiến nó trở thành một trong những một đô thị toàn cầu (World's major globe city). Thành phố là trung tâm văn hóa, kinh tế của Tây-Nam châu Âu, đứng thứ 24 trên thế giới (trước Zürich và sau Frankfurt) và còn là một trung tâm tài chính lớn. Vào năm 2008, Barcelona xếp hạng thứ 4 trong các thành phố có ảnh hưởng về kinh tế dựa trên GPD của Liên Minh châu Âu (EU), và đứng thứ 35 trên thế giới, GPD vào khoảng 177 tỷ euro. Năm 2009, Barcelona được xếp hạng là một trong ba thương hiệu thành phố thành công nhất thế giới, thứ ba ở châu Âu. Thành phố đứng đầu ở Tây Ban Nha về tỉ lệ lao động và GPD trên đầu người năm 2012.[2]
Tên gọi
[sửa | sửa mã nguồn]Nguồn gốc tên Barcelona đến từ tiếng Iberia cổ Barkeno, chứng mình bằng một đồng tiền xưa được tìm thấy có khắc cổ tự Iberia:
.
Nhiều nguồn cho rằng thành phố được đặt theo tên của vị tướng người Carthage: Hamilcar Barca (là cha của danh tướng Hannibal) người được cho rằng đã thành lập nên thành phố vào thế kỷ III TCN.
Vào thời Trung Cổ, thành phố được biết đến qua nhiều cái tên như: Barchinona, Barçalona, Barchelonaa, and Barchenona.
Các từ "Barna", "Barça" hay "Barsa" thường được viết tắt cho Barcelona, từ đầu tiên thường ngụ ý cho thành phố, hai từ còn lại thường ngụ ý cho đội bóng đá Barcelona. Ngoài ra còn có từ "BCN'' là Mã IATA của sân bay thành phố cũng ám chỉ Barcelona.
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Nguồn gốc của khu định cư sớm nhất tại địa điểm ngày nay là Barcelona hiện vẫn chưa được rõ ràng. Các tàn tích của một khu định cư sớm đã được khai quật trong khu phố El Raval, bao gồm các ngôi mộ khác nhau và nhà ở có niên đại trước năm 5000 trước Công nguyên.[3][4] Có hai truyền thuyết khác nhau về sự thành lập của Barcelona. Truyền thuyết đầu tiên về sự thành lập thành phố có liên quan đến thần thoại về Hercules. Truyền thuyết thứ hai về sự thành lập của thành phố có liên quan trực tiếp đến vị tướng Carthage, Hamilcar Barca, cha của Hannibal, ông được cho là đã đặt tên thành phố Barcino theo tên họ của gia đình ông vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên,[5] nhưng không có bằng chứng lịch sử hoặc ngôn ngữ nào chứng tỏ điều này là đúng.[6]
Thời kỳ Punic
[sửa | sửa mã nguồn]Theo truyền thuyết, Barcelona được thành lập bởi những người Punic (tức người Phoenicia) định cư, những người có các trạm buôn bán dọc theo bờ biển Catalonia.
Cụ thể, một số nhà sử học cho rằng thành phố được thành lập bởi vị tướng người Carthage trong lịch sử, Hamilcar Barca, cha của Hannibal. Ông được cho là đã đặt tên thành phố là Barcino theo tên gia tộc mình vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, nhưng giả thuyết này còn gây tranh cãi.
Bán đảo Iberia và Barcelona từng nằm dưới sự kiểm soát của Đế chế Carthage và là một địa điểm giao thương quan trọng vì nằm gần đảo Ibiza. Bằng chứng khảo cổ là những đồng xu từ thế kỷ thứ 3 TCN đã được tìm thấy dưới chân đồi Montjuïc, trên đó có khắc tên Bárkeno bằng một loại chữ cổ của người Iberia.
Thời La Mã
[sửa | sửa mã nguồn]Vào khoảng năm 15 TCN, người La Mã đã tái quy hoạch thị trấn thành một castrum (trại quân sự La Mã) với trung tâm là "Mons Taber", một ngọn đồi nhỏ gần tòa nhà Generalitat (Chính quyền xứ Catalonia) và tòa thị chính ngày nay. Quảng trường La Mã (Roman Forum), nằm ở giao lộ của hai trục đường chính là Cardo Maximus và Decumanus Maximus, có vị trí gần tương ứng với quảng trường Plaça de Sant Jaume hiện tại. Vì vậy, trung tâm chính trị của thành phố, của xứ Catalonia và các vùng lãnh thổ trực thuộc đã tồn tại ở cùng một vị trí trong hơn 2.000 năm.
Dưới thời La Mã, Barcelona là một thuộc địa với tên gọi tắt là Faventia, hoặc tên đầy đủ là Colonia Faventia Julia Augusta Pia Barcino hay Colonia Julia Augusta Faventia Paterna Barcino. Nhà văn Pomponius Mela đã nhắc đến nơi đây như một trong những thị trấn nhỏ trong vùng, có lẽ vì nó bị lu mờ bởi thành phố láng giềng Tarraco (Tarragona ngày nay). Tuy nhiên, qua ghi chép của các tác giả sau này, có thể thấy thành phố đã dần trở nên giàu có và có vị thế hơn, nhờ được ưu ái với một vị trí đẹp và một bến cảng tuyệt vời. Thành phố được miễn các loại thuế của đế quốc. Nơi đây cũng tự đúc tiền riêng; một số đồng xu từ thời Hoàng đế Galba vẫn còn tồn tại.
Các di tích quan trọng thời La Mã hiện được trưng bày dưới lòng đất tại quảng trường Plaça del Rei và là một phần của Bảo tàng Lịch sử Thành phố Barcelona (MUHBA); cấu trúc đường phố ô bàn cờ đặc trưng của người La Mã ngày nay vẫn còn thấy rõ trong sơ đồ của khu trung tâm lịch sử, khu Barri Gòtic (Khu phố Gothic). Ngày nay, một vài mảnh tường thành La Mã còn sót lại vẫn là một phần trong kết cấu của nhà thờ lớn.[7] Nhà thờ lớn, Catedral Basílica Metropolitana de Barcelona, đôi khi còn được gọi là La Seu, một từ trong tiếng Catalan có nghĩa đơn giản là "nhà thờ lớn".[8][9] Người ta cho rằng nhà thờ này được thành lập vào năm 343.
Thời trung cổ
[sửa | sửa mã nguồn]Thành phố bị người Visigoth chinh phục vào đầu thế kỷ thứ 5 và trở thành thủ đô của toàn bộ xứ Hispania trong vài năm. Sau khi bị triều đại Umayyad chinh phục vào đầu thế kỷ thứ 8, thành phố lại bị Louis, con trai của Charlemagne, chiếm lại sau một cuộc bao vây vào năm 801. Ông đã biến Barcelona thành trung tâm của "Vùng biên giới Hispania" (Marca Hispanica) dưới thời Carolingian, một vùng đệm do Bá tước của Barcelona cai trị.[10]
Các Bá tước của Barcelona ngày càng trở nên độc lập và mở rộng lãnh thổ của mình, bao gồm phần lớn xứ Catalonia ngày nay. Tuy nhiên, vào năm 985, Barcelona đã bị đội quân của Almanzor cướp phá.[11][12] Cuộc cướp phá này tàn khốc đến mức hầu hết dân số Barcelona đã bị giết hoặc bị bắt làm nô lệ. Vào năm 1137, Vương quốc Aragon và Bá quốc Barcelona đã hợp nhất thông qua một liên minh triều đại, bằng cuộc hôn nhân giữa Ramon Berenguer IV và Petronilla của Aragon.[13][14] Các tước vị của họ cuối cùng được hợp nhất làm một khi con trai của họ là Alfonso II của Aragon lên ngôi vào năm 1162. Lãnh thổ của ông sau này được biết đến với tên gọi Vương quyền Aragon. Vương quyền này đã chinh phục nhiều vùng đất ở hải ngoại và cai trị phía tây Địa Trung Hải, với các lãnh thổ xa xôi ở Naples, Sicily và thậm chí đến tận Athens vào thế kỷ 13.
Vào thời điểm đó, Barcelona cũng có một cộng đồng người Do Thái đáng kể, đây là cộng đồng Do Thái lớn nhất trong Vương quyền Aragon. Khu vực của họ được gọi là "the Call", theo tên những con phố nhỏ đặc trưng, và sau đó đã bị bao quanh bởi tường rào. Montjuïc (hay Montjuich), trong tiếng Latinh và Catalan thời trung cổ có nghĩa là "Ngọn núi Do Thái", là nơi có một nghĩa trang Do Thái từ thời trung cổ. Người Do Thái tiếp tục sống ở Barcelona cho đến khi Cuộc thảm sát năm 1391 làm giảm đáng kể số lượng của họ. Tòa án Dị giáo Tây Ban Nha đã buộc những người Do Thái còn lại nếu không chịu cải sang đạo Cơ đốc thì phải bị thiêu sống, hoặc bán tài sản và rời đi.
Barcelona là trung tâm buôn bán nô lệ hàng đầu của Vương quyền Aragon cho đến thế kỷ 15, trước khi bị Valencia vượt mặt.[15] Ban đầu, nguồn nô lệ chủ yếu đến từ phương Đông và vùng Balkan, sau đó chuyển sang khu vực Maghreb và cuối cùng là châu Phi Hạ Sahara.
Ngân hàng Taula de canvi de Barcelona, thường được xem là ngân hàng công lâu đời nhất ở châu Âu, được thành lập bởi các quan chức thành phố vào năm 1401. Ngân hàng này ra đời để đáp ứng những nhu cầu của nhà nước, tương tự như Ngân hàng Venice (1402) và Ngân hàng Genoa (1407).[16]
Thời kì vương quyền Tây Ban Nha
[sửa | sửa mã nguồn]
Bước vào Thời kỳ Cận đại, dù Barcelona không còn là trung tâm chính trị hàng đầu, nền kinh tế của thành phố vẫn giữ được sự cân bằng giữa sản xuất nội địa và hàng hóa nhập khẩu.[17]
Khi xứ Catalonia bắt đầu phục hồi vào nửa sau thế kỷ 17, hoạt động hàng hải cũng sôi động trở lại. Kể từ năm 1675, lượng tàu bè qua lại cảng Barcelona đã tăng gấp đôi so với đầu thế kỷ.[18] Tuy nhiên, suốt cuối thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18, thành phố liên miên chìm trong khói lửa chiến tranh, phải hứng chịu trận ném bom năm 1691, các cuộc vây hãm liên tiếp, và đỉnh điểm là cuộc phong tỏa năm 1713 kéo theo trận tấn công khốc liệt năm 1714.
Thế kỷ 18 chứng kiến dân số thành phố tăng vọt từ 30.000 lên gần 100.000 người. Barcelona vươn lên thành một trong những trung tâm thương mại then chốt của Tây Địa Trung Hải, có sức ảnh hưởng lan rộng vào đất liền.[19] Cùng lúc đó, một pháo đài được xây dựng trên đồi Montjuïc để kiểm soát toàn bộ bến cảng. Mặc dù các cuộc chiến tranh của Napoleon gây ra nhiều tác động tiêu cực, nhưng làn sóng công nghiệp hóa sau đó đã giúp kinh tế toàn tỉnh khởi sắc trở lại.
Trong thế kỷ 19, giới thương nhân xứ Catalonia, đặc biệt là ở Barcelona, đã dấn thân mạnh mẽ vào thị trường buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương. Họ chớp lấy thời cơ khi Đế quốc Anh bãi bỏ hoạt động này vào năm 1807. Những người Catalonia di cư sang châu Mỹ cũng tích cực sở hữu và quản lý các đồn điền nô lệ ở Cuba và Puerto Rico.
Ước tính từ năm 1817 đến 1867, người Catalonia đã vận chuyển khoảng 700.000 nô lệ từ Tây Phi đến Caribe. Nguồn lợi nhuận khổng lồ này đã tài trợ phần lớn cho quá trình công nghiệp hóa của Catalonia và sự bùng nổ xây dựng ở Barcelona trong thế kỷ 19. Dù chính phủ Tây Ban Nha đã cấm buôn bán nô lệ từ năm 1817, họ vẫn nhắm mắt làm ngơ cho các hoạt động phi pháp này tiếp diễn.
Khi chế độ nô lệ cuối cùng bị xóa bỏ trong toàn Đế quốc Tây Ban Nha vào năm 1886, nhiều người Catalonia trở về Barcelona. Họ dùng khối tài sản kếch xù kiếm được để xây nên những tòa biệt thự lộng lẫy tại các khu vực như La Rambla [20][cần nguồn tốt hơn].
Cuộc chuyển mình của thành phố
[sửa | sửa mã nguồn]Vào giữa những năm 1850, Barcelona, lúc này đã là một thành phố công nghiệp, cảng biển và một trung tâm của châu Âu, đang phải vật lộn với tình trạng mật độ dân số quá cao. Mật độ dân số của thành phố lên tới 856 người/hecta, cao hơn gấp đôi so với Paris. Tỷ lệ tử vong ngày càng tăng, và bất kỳ trận dịch nào bùng phát cũng có thể gây ra thảm họa.
Để giải quyết vấn đề này, một kỹ sư xây dựng tên là Ildefons Cerdà đã đề xuất một kế hoạch cho một khu phố mới, được biết đến với tên gọi Eixample. Lúc này, người dân Barcelona đã bắt đầu phá bỏ bức tường thành thời trung cổ vốn bao bọc và kìm hãm thành phố. Cerdà cho rằng cách tốt nhất là biến vùng đất bên ngoài bức tường thành một khu đô thị được quy hoạch theo phương pháp khoa học. Đề xuất của ông bao gồm một mạng lưới đường phố dạng ô bàn cờ để kết nối khu phố cổ với các làng mạc xung quanh. Kế hoạch này cũng có những con đường rộng rãi để không khí trong lành có thể lưu thông, có sân vườn ở trung tâm mỗi khu nhà, xóa nhòa khoảng cách giàu nghèo bằng cách cho mọi người tiếp cận các dịch vụ như nhau, và đảm bảo giao thông luôn thông suốt.
Chất lượng đô thị, sự bình đẳng, vệ sinh, ánh sáng mặt trời và tính hiệu quả là những yếu tố cốt lõi trong tầm nhìn của Cerdà. Không phải mọi thứ ông hình dung đều trở thành hiện thực ở khu Eixample, nhưng những khu nhà bát giác mang tính biểu tượng – với các góc được vát chéo để tăng tầm nhìn – chính là phát kiến của ông và vẫn còn vô cùng hữu ích sau 170 năm.
Vào thời đó, cả khu phố và những lý tưởng của nó đều không được coi trọng. Hội đồng thành phố đã trao bản thiết kế quy hoạch mở rộng cho một kiến trúc sư khác. Chính chính phủ Tây Ban Nha đã phải can thiệp và áp đặt kế hoạch của Cerdà, điều này đã đặt nền móng cho nhiều căng thẳng sau này giữa chính quyền Tây Ban Nha và xứ Catalonia. Dù vậy, một bộ phận giới thượng lưu ở Barcelona lại rất hào hứng với kế hoạch mới và bắt đầu một cuộc chạy đua xây dựng "ngôi nhà lớn nhất, cao nhất, hấp dẫn nhất" trong khu phố. Chính sự quan tâm và tiền bạc của họ đã tạo nên sự đa dạng phong phú trong kiến trúc của khu phố mà chúng ta thấy ngày nay.
Cuối cùng, những ý tưởng của Cerdà đã để lại một di sản lâu dài cho sự phát triển của Barcelona, giúp thành phố được quốc tế công nhận nhờ phương pháp quy hoạch và thiết kế đô thị vô cùng hiệu quả của mình.[21][22]
Nội chiến Tây Ban Nha và thời kỳ Franco
[sửa | sửa mã nguồn]

Barcelona từng là thủ đô của nền Cộng hòa Tây Ban Nha từ tháng 11 năm 1937 đến tháng 1 năm 1939. Trong suốt thời kỳ Nội chiến, thành phố và toàn xứ Catalonia nói chung, đều kiên quyết đứng về phe Cộng hòa.
Ngay sau khi nền Cộng hòa Tây Ban Nha thứ hai được thành lập vào năm 1931, Barcelona đã trở thành thủ phủ của vùng tự trị Catalonia. Trong cuộc Nội chiến, nhiều doanh nghiệp và dịch vụ công đã bị các công đoàn CNT và UGT tập thể hóa. Khi quyền lực của chính phủ Cộng hòa suy yếu, phần lớn thành phố nằm dưới sự kiểm soát thực tế của các nhóm vô chính phủ. Sau các cuộc giao tranh trên đường phố trong sự kiện "Những ngày tháng Năm ở Barcelona", phe vô chính phủ đã mất quyền kiểm soát vào tay chính các đồng minh của mình, là những người Cộng sản và quân đội chính phủ.
Sự thất thủ của thành phố vào ngày 26 tháng 1 năm 1939 đã gây ra một cuộc di cư ồ ạt của người dân về phía biên giới Pháp. Sự kháng cự của Barcelona trước cuộc đảo chính của Franco đã để lại những hậu quả lâu dài. Các thể chế tự trị của Catalonia bị bãi bỏ, và việc sử dụng tiếng Catalan trong đời sống công cộng bị cấm đoán.
Dù bị chiến tranh tàn phá, Barcelona vẫn là thành phố lớn thứ hai ở Tây Ban Nha, là trung tâm của một khu vực tương đối công nghiệp hóa và thịnh vượng. Điều này dẫn đến một làn sóng nhập cư quy mô lớn từ các vùng nghèo hơn của Tây Ban Nha (đặc biệt là Andalusia, Murcia và Galicia), kéo theo quá trình đô thị hóa nhanh chóng.
Cuối thế kỷ 20
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 1992, Barcelona đăng cai Thế vận hội Mùa hè. Sự kiện này được cho là động lực thúc đẩy những thay đổi lớn lao cho một thành phố vốn chủ yếu là công nghiệp cho đến thời điểm đó.
Để chuẩn bị cho Thế vận hội, các tòa nhà công nghiệp dọc bờ biển đã bị phá bỏ và một bãi biển dài 3 km đã được tạo ra. Các công trình xây dựng mới đã giúp tăng 17% công suất đường bộ, 27% khả năng xử lý nước thải và 78% diện tích cây xanh và bãi biển mới. Từ năm 1990 đến 2004, số lượng phòng khách sạn trong thành phố đã tăng gấp đôi.
Có lẽ quan trọng hơn, hình ảnh của thành phố trong mắt thế giới đã thay đổi. Đến năm 2012, Barcelona đã trở thành điểm đến nổi tiếng thứ 12 trên thế giới và thứ 5 ở châu Âu.[25][26][27][28][29]
Barcelona đương đại
[sửa | sửa mã nguồn]Cái chết của Franco vào năm 1975 đã mở ra một thời kỳ dân chủ hóa trên toàn Tây Ban Nha. Áp lực đòi thay đổi đặc biệt mạnh mẽ ở Barcelona, vì thành phố này cho rằng họ đã bị trừng phạt trong suốt gần 40 năm dưới chế độ Franco do đã ủng hộ chính phủ Cộng hòa.[30] Vào ngày 11 tháng 9 năm 1977, các cuộc biểu tình rầm rộ nhưng ôn hòa đã quy tụ hơn một triệu người trên đường phố Barcelona để kêu gọi khôi phục quyền tự trị cho xứ Catalonia. Yêu cầu này đã được chấp thuận chưa đầy một tháng sau đó.[31]
Sự phát triển của Barcelona được thúc đẩy bởi hai sự kiện lớn vào năm 1986: Tây Ban Nha gia nhập Cộng đồng châu Âu, và đặc biệt là việc Barcelona được chọn làm thành phố đăng cai Thế vận hội Mùa hè 1992.[32][33] Quá trình tái thiết đô thị đã diễn ra nhanh chóng, đi kèm với đó là danh tiếng quốc tế của thành phố như một điểm đến du lịch ngày càng tăng cao. Tuy nhiên, chi phí nhà ở tăng cao đã dẫn đến sụt giảm nhẹ dân số trong hai thập kỷ cuối của thế kỷ 20, do nhiều gia đình chuyển ra vùng ngoại ô. Sự sụt giảm này đã đảo ngược kể từ năm 2001, khi một làn sóng nhập cư mới (chủ yếu từ Châu Mỹ Latinh và Maroc) tăng mạnh.[34]

Năm 1987, một vụ đánh bom xe của tổ chức ly khai ETA tại siêu thị Hipercor đã khiến 21 người thiệt mạng. Vào ngày 17 tháng 8 năm 2017, một chiếc xe tải đã lao vào đám đông đi bộ trên đại lộ La Rambla, làm 14 người thiệt mạng và ít nhất 100 người bị thương. Thủ tướng Tây Ban Nha, Mariano Rajoy, đã gọi đây là một cuộc tấn công thánh chiến. Trong những năm 2010, Barcelona trở thành tâm điểm của phong trào độc lập Catalonia, dẫn đến những cuộc đối đầu căng thẳng giữa chính quyền khu vực và chính phủ trung ương, cùng với các cuộc biểu tình sau đó.
Vào tháng 7 năm 2023, Barcelona được công bố là Thủ đô Kiến trúc Thế giới của UNESCO-UIA cho nhiệm kỳ 2024–2026. Điều này có nghĩa là thành phố sẽ là trung tâm của các cuộc thảo luận về những thách thức toàn cầu, bao gồm văn hóa, di sản, quy hoạch đô thị và kiến trúc. Đây là một vinh dự xứng đáng, vì lịch sử của Barcelona được tô điểm bởi những thành tựu kiến trúc và sự đa dạng của các phong cách mang tính biểu tượng. Từ cội nguồn La Mã cổ đại cho đến các phong trào Gothic và Modernisme (Chủ nghĩa Hiện đại), Barcelona đã luôn phát triển rực rỡ nhờ vào cách kết hợp hài hòa giữa kiến trúc và văn hóa.
Các thành phố kết nghĩa
[sửa | sửa mã nguồn]
|
|
Khí hậu
[sửa | sửa mã nguồn]Thành phố có khí hậu Địa Trung Hải[52] (Phân loại khí hậu Köppen: Csa),[53] với mùa đông ẩm và ôn hòa, mùa hè khô và ấm.
| Dữ liệu khí hậu của Barcelona Can Bruixa - Barcelona city (1987-2014) | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Cao kỉ lục °C (°F) | 22.4 (72.3) |
24.8 (76.6) |
28.8 (83.8) |
27.7 (81.9) |
31.6 (88.9) |
35.8 (96.4) |
36.8 (98.2) |
38.2 (100.8) |
33.4 (92.1) |
32.6 (90.7) |
26.1 (79.0) |
23.1 (73.6) |
38.2 (100.8) |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 14.8 (58.6) |
15.6 (60.1) |
17.4 (63.3) |
19.1 (66.4) |
22.5 (72.5) |
26.1 (79.0) |
28.6 (83.5) |
29.0 (84.2) |
26.0 (78.8) |
22.5 (72.5) |
17.9 (64.2) |
15.1 (59.2) |
21.2 (70.2) |
| Trung bình ngày °C (°F) | 11.8 (53.2) |
12.4 (54.3) |
14.2 (57.6) |
15.8 (60.4) |
19.3 (66.7) |
23.0 (73.4) |
25.7 (78.3) |
26.1 (79.0) |
23.0 (73.4) |
19.5 (67.1) |
14.9 (58.8) |
12.3 (54.1) |
18.2 (64.8) |
| Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) | 8.8 (47.8) |
9.3 (48.7) |
10.9 (51.6) |
12.5 (54.5) |
16.1 (61.0) |
19.8 (67.6) |
22.7 (72.9) |
23.1 (73.6) |
20.0 (68.0) |
16.5 (61.7) |
11.9 (53.4) |
9.5 (49.1) |
15.1 (59.2) |
| Thấp kỉ lục °C (°F) | −1.0 (30.2) |
0.6 (33.1) |
0.4 (32.7) |
6.2 (43.2) |
6.3 (43.3) |
12.4 (54.3) |
15.5 (59.9) |
15.2 (59.4) |
12.5 (54.5) |
5.4 (41.7) |
1.7 (35.1) |
0.7 (33.3) |
−1.0 (30.2) |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 43.7 (1.72) |
31.4 (1.24) |
33.0 (1.30) |
47.7 (1.88) |
47.4 (1.87) |
25.5 (1.00) |
25.1 (0.99) |
40.8 (1.61) |
81.9 (3.22) |
96.5 (3.80) |
45.1 (1.78) |
46.8 (1.84) |
565.0 (22.24) |
| Số ngày giáng thủy trung bình (≥ 1.0 mm) | 6.0 | 5.0 | 6.2 | 7.9 | 7.5 | 5.5 | 3.1 | 5.8 | 8.0 | 8.0 | 6.6 | 7.0 | 76.6 |
| Nguồn: Agencia Estatal de Meteorología - Barcelona City Hall[54] | |||||||||||||
| Dữ liệu khí hậu của Barcelona Airport (1981-2010) | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 13.6 (56.5) |
14.3 (57.7) |
16.1 (61.0) |
18.0 (64.4) |
21.1 (70.0) |
24.9 (76.8) |
28.0 (82.4) |
28.5 (83.3) |
26.0 (78.8) |
22.1 (71.8) |
17.3 (63.1) |
14.3 (57.7) |
20.3 (68.5) |
| Trung bình ngày °C (°F) | 9.2 (48.6) |
9.9 (49.8) |
11.8 (53.2) |
13.7 (56.7) |
16.9 (62.4) |
20.9 (69.6) |
23.9 (75.0) |
24.4 (75.9) |
21.7 (71.1) |
17.8 (64.0) |
13.0 (55.4) |
10.0 (50.0) |
16.1 (61.0) |
| Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) | 4.7 (40.5) |
5.4 (41.7) |
7.4 (45.3) |
9.4 (48.9) |
12.8 (55.0) |
16.8 (62.2) |
19.8 (67.6) |
20.2 (68.4) |
17.4 (63.3) |
13.5 (56.3) |
8.6 (47.5) |
5.7 (42.3) |
11.8 (53.2) |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 37 (1.5) |
35 (1.4) |
36 (1.4) |
40 (1.6) |
47 (1.9) |
30 (1.2) |
21 (0.8) |
62 (2.4) |
81 (3.2) |
91 (3.6) |
59 (2.3) |
40 (1.6) |
588 (23.1) |
| Số ngày giáng thủy trung bình (≥ 1.0 mm) | 4 | 4 | 5 | 5 | 5 | 4 | 2 | 5 | 5 | 6 | 5 | 4 | 53 |
| Số giờ nắng trung bình tháng | 158 | 171 | 206 | 239 | 258 | 287 | 293 | 264 | 229 | 196 | 153 | 137 | 2.591 |
| Nguồn: Agencia Estatal de Meteorología[55] | |||||||||||||
Nhân khẩu
[sửa | sửa mã nguồn]Dân số
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Số dân | ±% |
|---|---|---|
| 1842 | 121.815 | — |
| 1857 | 183.787 | +50.9% |
| 1877 | 243.315 | +32.4% |
| 1887 | 268.223 | +10.2% |
| 1900 | 528.946 | +97.2% |
| 1910 | 581.823 | +10.0% |
| 1920 | 705.901 | +21.3% |
| 1930 | 958.723 | +35.8% |
| 1940 | 1.077.671 | +12.4% |
| 1950 | 1.276.675 | +18.5% |
| 1960 | 1.526.550 | +19.6% |
| 1970 | 1.741.979 | +14.1% |
| 1981 | 1.752.627 | +0.6% |
| 1991 | 1.643.542 | −6.2% |
| 2001 | 1.503.884 | −8.5% |
| 2011 | 1.611.013 | +7.1% |
| 2021 | 1.627.559 | +1.0% |
| Nguồn: INE[56] | ||
Tính đến năm 2024, toàn thành phố Barcelona có dân số 1.686.208 người trên diện tích 101,4 km². Đây là thành phần chính của khu vực hành chính Vùng đô thị Barcelona mở rộng (Greater Barcelona), với dân số 3.218.071 người trên diện tích 636 km² (mật độ 5.060 người/km²). Thành phố cũng là hạt nhân trung tâm của vùng đại đô thị Barcelona (Barcelona metropolitan area), nơi có tổng dân số lên tới 5.474.482 người.[57]
Vào năm 1900, Barcelona có dân số 533.000 người. Con số này tăng đều đặn nhưng chậm cho đến năm 1950, khi thành phố bắt đầu tiếp nhận một lượng lớn người dân từ các vùng kém công nghiệp hóa khác của Tây Ban Nha. Dân số Barcelona đạt đỉnh điểm vào năm 1979 với 1.906.998 người, sau đó giảm dần trong suốt những năm 1980 và 1990 do nhiều người tìm kiếm chất lượng sống cao hơn ở các thành phố ngoại vi.
Sau khi chạm đáy vào năm 2000 với 1.496.266 người, dân số thành phố bắt đầu tăng trở lại khi thế hệ trẻ quay về sinh sống, kéo theo sự tăng mạnh về giá nhà ở.[58]
Ngôn ngữ
[sửa | sửa mã nguồn]Tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ được nói nhiều nhất ở Barcelona (theo điều tra ngôn ngữ của Chính quyền Catalonia năm 2013) và được gần như tất cả mọi người dân hiểu. Tiếng Catalan cũng rất phổ biến trong thành phố: 95% dân số có thể hiểu, 72,3% có thể nói, 79% có thể đọc và 53% có thể viết được ngôn ngữ này.[59] Mức độ thông thạo tiếng Catalan đã tăng đáng kể trong những thập kỷ gần đây nhờ vào một hệ thống giáo dục "đắm mình trong ngôn ngữ" (dạy và học hoàn toàn bằng tiếng Catalan).
Theo dữ liệu do Đại học Barcelona thu thập, sau tiếng Catalan và tiếng Tây Ban Nha, các ngôn ngữ được nói nhiều nhất ở Barcelona là các ngôn ngữ từ Bắc Phi, như tiếng Amazigh và tiếng Ả Rập. Tiếp theo là tiếng Bengali, Urdu, Punjabi, tiếng Quan Thoại (Trung Quốc), tiếng Romania, tiếng Anh, tiếng Nga và tiếng Quechua.[60]
Nhập cư
[sửa | sửa mã nguồn]Vào năm 2016, khoảng 59% cư dân của thành phố được sinh ra tại Catalonia và 18,5% đến từ các vùng khác của Tây Ban Nha. Ngoài ra, 22,5% dân số sinh ra ở ngoài Tây Ban Nha. Tỷ lệ này đã tăng hơn gấp đôi so với năm 2001 (khi đó là 8,6%) và tăng hơn gấp năm lần so với năm 1996 (khi đó là 3,9%).[61]
Khu vực xuất xứ chính của người nhập cư là châu Âu, với nhiều người đến từ Ý (26.676 người) và Pháp (13.506 người). Ngoài ra, nhiều người nhập cư cũng đến từ các quốc gia Châu Mỹ Latinh như Bolivia, Ecuador hay Colombia. Kể từ những năm 1990, cũng giống như những người nhập cư khác, nhiều người Mỹ Latinh đã định cư ở các khu vực phía bắc của thành phố.[62]
Có một cộng đồng người Pakistan tương đối lớn ở Barcelona, với số lượng lên tới hai mươi nghìn người. Cộng đồng này có số lượng nam giới nhiều hơn đáng kể so với nữ giới. Nhiều người Pakistan đang sinh sống tại quận Ciutat Vella. Những người nhập cư Pakistan đầu tiên đến đây vào những năm 1970, và con số này ngày càng tăng trong những năm 1990.[63]
Các nhóm nhập cư đáng kể khác đến từ châu Á, chẳng hạn như từ Trung Quốc và Philippines. Có một cộng đồng người Nhật Bản tập trung ở Bonanova, Les Tres Torres, Pedralbes và các khu phố phía bắc khác. Một trường quốc tế Nhật Bản cũng được thành lập để phục vụ cho cộng đồng này.[64]
Tôn giáo
[sửa | sửa mã nguồn]Vào năm 2007, hầu hết cư dân cho biết họ theo Công giáo La Mã (thành phố có 208 nhà thờ).[65] Trong một cuộc khảo sát năm 2011, 49,5% cư dân Barcelona tự nhận mình là người Công giáo.[66] Đây là lần đầu tiên có hơn một nửa số người được hỏi không tự nhận mình là tín đồ Công giáo. Những con số này phản ánh một xu hướng chung ở Tây Ban Nha, đó là số lượng người tự nhận là Công giáo ngày càng giảm. Vào năm 2019, một cuộc khảo sát khác cho thấy 53,2% cư dân ở Barcelona tự nhận là người Công giáo (trong đó có 9,9% là người thường xuyên hành đạo và 43,3% là người không thường xuyên hành đạo).[67]
Tỉnh Barcelona có cộng đồng Hồi giáo lớn nhất ở Tây Ban Nha. Vào năm 2014, có 322.698 người trong tổng số 5,5 triệu dân của tỉnh tự nhận mình là người Hồi giáo, chiếm 5,6% tổng dân số.[68] Một số lượng đáng kể người Hồi giáo sống ở Barcelona là do nhập cư (thành phố có 169 địa điểm thờ tự, chủ yếu do người Maroc thực hành tín ngưỡng).
Thành phố cũng có cộng đồng Do Thái lớn nhất ở Tây Ban Nha, với ước tính khoảng 3.500 người.[69] Ngoài ra còn có một số nhóm tôn giáo khác, bao gồm đạo Tin Lành (Evangelical) (71 địa điểm, chủ yếu do người Roma theo), Nhân Chứng Giê-hô-va (21 Phòng Nước Trời), Phật giáo (13 địa điểm), và Chính thống giáo Đông phương.[70][71]
Kinh tế
[sửa | sửa mã nguồn]
Vùng đại đô thị Barcelona chiếm hơn 66% dân số xứ Catalonia, một trong những vùng giàu có nhất châu Âu và là vùng giàu thứ tư tính theo đầu người ở Tây Ban Nha, với GDP bình quân đầu người là 28.400 € (cao hơn 16% so với mức trung bình của EU).
Vào năm 2009, vùng đại đô thị Barcelona mở rộng có tổng GDP là 177 tỷ USD. Điều này khiến Barcelona trở thành thành phố có sức mạnh kinh tế lớn thứ 4 trong Liên minh châu Âu và thứ 35 trên thế giới xét về tổng GDP.[72] Theo Eurostat, riêng thành phố Barcelona đã có GDP bình quân đầu người rất cao là 80.894 € vào năm 2004.[73]
Vào năm 2015, Barcelona được tạp chí phong cách sống Monocle xếp hạng là "thành phố đáng sống" thứ 24 trên thế giới.[74] Tương tự, thành phố chiếm vị trí thứ 13 thế giới trong Chỉ số Thành phố Sáng tạo Toàn cầu.[75] Đồng thời, theo Báo cáo Lối sống và Tài sản Toàn cầu năm 2020, đây là một trong những thành phố có chi phí phải chăng nhất thế giới cho một lối sống xa hoa.[76]
Barcelona có một truyền thống thương mại lâu đời. Một điều ít được biết đến hơn là thành phố này đã công nghiệp hóa từ rất sớm, bắt đầu vào năm 1833 khi ngành dệt may vốn đã phát triển của Catalonia bắt đầu sử dụng năng lượng hơi nước. Barcelona đã trở thành thành phố công nghiệp đầu tiên và quan trọng nhất ở lưu vực Địa Trung Hải. Kể từ đó, ngành sản xuất chế tạo luôn đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử của thành phố.
Borsa de Barcelona (Sở giao dịch chứng khoán Barcelona) là sở giao dịch chứng khoán chính ở phía đông bắc của Bán đảo Iberia.
Dựa trên tiềm năng kinh tế, Barcelona đã được Tạp chí FDi công nhận là Thành phố Tương lai của Nam Âu giai đoạn 2014/15 trong bảng xếp hạng hai năm một lần của họ.[77][78]
Hội chợ thương mại và triển lãm
[sửa | sửa mã nguồn]Thành phố cũng có nhiều trung tâm hội nghị, nổi bật là Fira de Barcelona – trung tâm hội chợ thương mại và triển lãm lớn thứ hai ở châu Âu. Nơi đây tổ chức một số lượng ngày càng tăng các sự kiện trong nước và quốc tế mỗi năm. Tổng diện tích sàn triển lãm của các địa điểm thuộc Fira de Barcelona là 405.000 m², chưa kể đến trung tâm Gran Via tại quảng trường Plaza de Europa.
Một trung tâm kinh doanh quan trọng khác là Trung tâm Thương mại Thế giới Barcelona, nằm ở cảng Port Vell.
Barcelona nổi tiếng với việc đăng cai tổ chức các hội nghị và triển lãm tầm cỡ thế giới, có thể kể đến Triển lãm Toàn cầu Barcelona năm 1888, Triển lãm Quốc tế Barcelona năm 1929, Diễn đàn Văn hóa Toàn cầu năm 2004 và Diễn đàn Đô thị Thế giới cũng trong năm 2004.
Du lịch
[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2023, Barcelona là thành phố được khách quốc tế ghé thăm nhiều thứ 9 trên thế giới và nhiều thứ năm ở châu Âu, chỉ sau Paris, Madrid, Amsterdam và Rome, với khoảng 9 triệu lượt khách.[79] Đây là một điểm đến du lịch nổi tiếng toàn cầu, với vô số khu vui chơi giải trí, một trong những bãi biển đẹp nhất thế giới, khí hậu ôn hòa ấm áp, và các di tích lịch sử, bao gồm tám Di sản Thế giới được UNESCO công nhận. Có 519 khách sạn tại Barcelona tính đến tháng 3 năm 2016 [80](trong đó có 35 khách sạn năm sao ,[81]). Thành phố có cơ sở hạ tầng du lịch rất phát triển.
Tuy nhiên, do lượng khách du lịch đổ về mỗi năm, Barcelona, giống như nhiều thủ đô du lịch khác, phải đối mặt với nạn móc túi. Dù vậy, thành phố vẫn được coi là một trong những nơi an toàn nhất về an ninh và an toàn cá nhân,[82] chủ yếu nhờ vào một chiến lược trị an tinh vi đã giúp giảm 32% tội phạm chỉ trong hơn ba năm, và đã giúp thành phố được tạp chí Business Insider xếp hạng là thành phố an toàn thứ 15 trên thế giới vào năm 2016.[83]
Mặc dù du lịch mang lại lợi ích kinh tế, thành phố đang quá tải vì lượng khách du lịch khổng lồ. Vào đầu năm 2017, hơn 150.000 người biểu tình đã cảnh báo rằng du lịch đang làm đảo lộn thành phố. Các khẩu hiệu như "Du khách hãy về đi", "Barcelona không phải để bán" và "Chúng tôi sẽ không bị đuổi đi" đã xuất hiện. Vào thời điểm đó, lượng khách đã tăng từ 1,7 triệu vào năm 1990 lên 32 triệu người, trong một thành phố chỉ có 1,62 triệu dân. Điều này đã làm tăng chi phí thuê nhà của người dân địa phương và gây quá tải cho các không gian công cộng. Dù du khách đã chi tiêu khoảng 30 tỷ euro vào năm 2017, một số người vẫn xem họ là mối đe dọa đối với bản sắc của Barcelona.[84]
Một bài báo vào tháng 5 năm 2017 trên tờ The Independent đã xếp Barcelona vào danh sách "Tám nơi ghét khách du lịch nhất". Thị trưởng Ada Colau đã bình luận: "Chúng tôi không muốn thành phố trở thành một cửa hàng lưu niệm giá rẻ".[85] Để giải quyết vấn đề, thành phố đã ngừng cấp phép cho các khách sạn và căn hộ cho thuê mới; đồng thời phạt AirBnb 30.000 €. Thị trưởng đã đề xuất áp dụng một loại thuế du lịch mới và đặt ra giới hạn về số lượng du khách.[85] Justin Francis, người sáng lập công ty du lịch Responsible Travel, cho rằng cần phải có các biện pháp để hạn chế lượng du khách đang gây ra một "cuộc khủng hoảng du lịch quá tải" ở một số thành phố lớn của châu Âu. Ông nói: "Cuối cùng, người dân phải được ưu tiên hơn du khách về nhà ở, cơ sở hạ tầng và dịch vụ vì họ mới là người có lợi ích lâu dài gắn với sự thành công của thành phố".[86] Các cuộc biểu tình chống du lịch quá tải đã bắt đầu trong thành phố vào tháng 4 năm 2024, đạt đến đỉnh điểm vào tháng 7 năm 2024.[87] Những cuộc biểu tình này lại một lần nữa thu hút sự chú ý vào tháng 7 năm 2025, khi các hành động tương tự diễn ra trên khắp Nam Âu. Trong các cuộc biểu tình, một số người đã dùng súng nước cỡ lớn để phun nước vào khách du lịch.[88]
Lĩnh vực sản xuất chế tạo
[sửa | sửa mã nguồn]Ngành công nghiệp tạo ra 21% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của toàn khu vực,[89] trong đó các ngành năng lượng, hóa chất và luyện kim chiếm 47% sản lượng công nghiệp.[90]
Barcelona từ lâu đã là một trung tâm sản xuất ô tô quan trọng của châu Âu. Trong quá khứ, thành phố từng là quê hương của rất nhiều nhà máy ô tô, bao gồm các thương hiệu như Hispano-Suiza và Pegaso. Ngày nay, trụ sở chính và một nhà máy lớn của SEAT (nhà sản xuất ô tô lớn nhất Tây Ban Nha) được đặt tại một trong những vùng ngoại ô của thành phố. Ngoài ra, còn có một nhà máy của Nissan.[91] Nhà máy của Derbi, một nhà sản xuất xe máy và xe tay ga lớn, cũng nằm gần thành phố.[92]
Giống như các thành phố hiện đại khác, lĩnh vực sản xuất đã bị ngành dịch vụ vượt qua trong tỉ trọng GDP, mặc dù nó vẫn giữ một vai trò rất quan trọng. Các ngành công nghiệp hàng đầu của khu vực bao gồm dệt may, hóa chất, dược phẩm, ô tô, điện tử, in ấn, logistics, xuất bản, dịch vụ công nghệ thông tin, và đặc biệt trong lĩnh vực viễn thông và văn hóa, thành phố là nơi diễn ra sự kiện Mobile World Congress (Đại hội Di động Thế giới).
Thời trang
[sửa | sửa mã nguồn]
Tầm quan trọng truyền thống của ngành dệt may được phản ánh qua nỗ lực của Barcelona nhằm trở thành một trung tâm thời trang lớn. Đã có nhiều nỗ lực để đưa Barcelona trở thành một kinh đô thời trang của thế giới, nổi bật là sự kiện Gaudi Home.
Bắt đầu từ mùa hè năm 2000, thành phố đã đăng cai tổ chức hội chợ thời trang đường phố Bread & Butter cho đến năm 2009, khi ban tổ chức của hội chợ này thông báo sẽ quay trở lại Berlin. Đây là một tổn thất lớn cho thành phố, vì hội chợ này đã mang về 100 triệu euro chỉ trong ba ngày.[93][94]
Từ năm 2009 đến 2012, The Brandery, một show diễn thời trang đường phố khác, đã được tổ chức tại Barcelona hai lần mỗi năm.
Theo bảng xếp hạng thường niên của Global Language Monitor về năm mươi kinh đô thời trang hàng đầu thế giới, Barcelona đã được vinh danh là kinh đô thời trang đứng thứ bảy trên thế giới vào năm 2015, ngay sau Milan và xếp trên Berlin.[95]
Công nghệ
[sửa | sửa mã nguồn]Nhiều công ty công nghệ có văn phòng tại Barcelona, phần lớn tập trung ở khu phố El Poblenou.
Có thể kể đến các công ty đặt trụ sở chính tại đây như Factorial, Glovo, TravelPerk, Wallapop và EDreams. Bên cạnh đó, nhiều tập đoàn công nghệ lớn khác cũng có sự hiện diện tại thành phố, bao gồm Oracle, Amazon, King, Hewlett-Packard và Proton Mail.
Barcelona được xếp hạng là trung tâm khởi nghiệp (startup hub) số 1 ở Nam Âu và là thành phố tốt thứ 33 trong Hệ sinh thái Khởi nghiệp Toàn cầu, theo bảng xếp hạng của Startupblink.[96]
Thành phố cũng là nơi có Trung tâm Siêu máy tính Barcelona, nơi vận hành siêu máy tính MareNostrum.
Các điểm tham quan
[sửa | sửa mã nguồn]

Barri Gòtic (Khu phố Gothic) là trung tâm lịch sử của Barcelona, nơi lưu giữ nhiều công trình từ thời Trung cổ, thậm chí có những dấu tích từ thời định cư La Mã. Khu vực này mang đậm nét lịch sử với những con đường hẹp quanh co và các tòa nhà cổ kính. Phong cách kiến trúc Catalan modernista, phát triển từ năm 1885 đến 1950, đã để lại dấu ấn sâu đậm tại Barcelona. Nhiều công trình thuộc phong cách này, đặc biệt là các thiết kế của Antoni Gaudí, được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Nhà thờ Sagrada Família, kiệt tác của kiến trúc sư Antoni Gaudí, là một trong những công trình nổi bật nhất của Barcelona. Bắt đầu xây dựng từ năm 1882, nhà thờ này vẫn chưa hoàn thiện và được tài trợ bởi các khoản đóng góp cá nhân. Theo kế hoạch, công trình dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2026.[97] Ngoài Sagrada Família, các tác phẩm khác của Gaudí như Casa Batlló và Park Güell cũng là những điểm đến không thể bỏ qua.
Được thiết kế bởi Ludwig Mies van der Rohe cho Triển lãm Quốc tế năm 1929, Barcelona Pavilion là biểu tượng của kiến trúc hiện đại với triết lý “less is more” (ít nhưng chất) và sự tinh tế trong chi tiết.[98] Mặc dù công trình ban đầu chỉ là tạm thời và bị tháo dỡ vào năm 1930, một phiên bản tái hiện hiện đại đã được xây dựng lại vào năm 1986, trở thành một điểm tham quan nổi bật.
Năm 1999, Barcelona được trao Huân chương Vàng Hoàng gia RIBA nhờ những đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực kiến trúc, trở thành thành phố đầu tiên (và tính đến năm 2015, là duy nhất) nhận được vinh dự này thay vì một cá nhân.[99]
Các di tích lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]

- Nhà thờ Barcelona (Catedral de Barcelona) Nhà thờ này, còn được gọi là Nhà thờ Thánh Giá và Thánh Eulalia, là một công trình kiến trúc Gothic tuyệt đẹp, đại diện cho trung tâm tôn giáo của thành phố. Nhà thờ nổi bật với mái vòm tinh xảo và các chi tiết kiến trúc từ thời Trung cổ.
- Casa Milà (La Pedrera) Casa Milà, một kiệt tác của Antoni Gaudí, là một tòa nhà độc đáo với thiết kế hiện đại và những đường cong mềm mại. Công trình này được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới vào năm 1984, nổi tiếng với mái nhà hình sóng và các ống khói mang tính biểu tượng.
- Tiểu vương cung thánh đường Sagrada Família: Biểu tượng của Barcelona, là nhà thờ chưa hoàn thiện của Antoni Gaudí, với thiết kế độc đáo và quy mô đồ sộ. Công trình này được UNESCO công nhận và là điểm đến không thể bỏ qua của du khách.
- Palau de la Música Catalana và Bệnh viện Sant Pau: Cả hai công trình này, được thiết kế bởi Lluís Domènech i Montaner, là những ví dụ tiêu biểu của kiến trúc Catalan modernista. Chúng được UNESCO đưa vào Danh sách Di sản Thế giới năm 1997 nhờ thiết kế độc đáo và giá trị văn hóa.
- Các tác phẩm của Antoni Gaudí: Ngoài Sagrada Família, các công trình khác của Gaudí cũng góp phần làm nên danh tiếng của Barcelona, bao gồm:
- Park Güell: Công viên với những bức khảm rực rỡ và kiến trúc kỳ diệu, được UNESCO công nhận năm 1984.
- Palau Güell: Cung điện với thiết kế nội thất tinh tế, cũng nằm trong danh sách UNESCO năm 1984.
- Casa Vicens: Ngôi nhà đầu tiên do Gaudí thiết kế, được thêm vào danh sách UNESCO năm 2005.
- Casa Batlló: Tòa nhà nổi bật với mặt tiền giống như sóng biển và mái nhà hình vảy rồng, được UNESCO công nhận năm 2005.
- Hầm mộ tại Nhà thờ Colònia Güell: Một công trình thử nghiệm của Gaudí, cũng được UNESCO công nhận năm 2005.
- Tiểu vương cung thánh đường Santa Maria del Mar Đây là một nhà thờ Gothic tuyệt đẹp, được biết đến với sự thanh lịch và không gian nội thất rộng lớn, là biểu tượng của sức mạnh hàng hải của Barcelona thời Trung cổ.
- Tiểu vương cung thánh đường Santa Maria del Pi: Nhà thờ Gothic này nổi bật với mặt tiền đơn giản nhưng ấn tượng và cửa sổ hoa hồng lớn, là một trong những viên ngọc kiến trúc của khu Barri Gòtic.
- Nhà thờ Romanesque Sant Pau del Camp: Đây là một trong những nhà thờ lâu đời nhất ở Barcelona, mang phong cách Romanesque mộc mạc, với lịch sử từ thế kỷ thứ 9.
- Palau Reial Major: Cung điện này từng là nơi ở của các Bá tước Barcelona và sau đó là Vua của Aragon, thể hiện kiến trúc thời Trung cổ với các phòng lớn và sân trong ấn tượng.
- Xưởng đóng tàu Hoàng gia (Drassanes Reials): Công trình Gothic này từng là xưởng đóng tàu lớn nhất thời Trung cổ, nay là Bảo tàng Hàng hải Barcelona, lưu giữ lịch sử hàng hải phong phú của thành phố.
- Tu viện Pedralbes: Tu viện Gothic này là một nơi yên bình với kiến trúc tinh tế, nổi bật với tu viện ba tầng và các chi tiết trang trí tuyệt đẹp.
- Tượng đài Columbus: Được xây dựng để tưởng niệm Christopher Columbus, tượng đài này nằm ở cuối đại lộ La Rambla.
- Khải hoàn môn (Arc de Triomf): Công trình này được xây dựng làm cổng vào cho Triển lãm Thế giới Barcelona năm 1888, với thiết kế gạch đỏ nổi bật và các chi tiết trang trí công phu.
- Nhà thờ Chuộc tội Thánh Tâm Chúa Giêsu: Nằm trên đỉnh đồi Tibidabo, nhà thờ này là một công trình kiến trúc ấn tượng với tầm nhìn toàn cảnh thành phố.
- Tòa nhà lịch sử của Đại học Barcelona: Tòa nhà này là một ví dụ tuyệt vời của kiến trúc thế kỷ 19, thể hiện vai trò quan trọng của Barcelona trong giáo dục và văn hóa.
Bảo tàng
[sửa | sửa mã nguồn]Barcelona có rất nhiều bảo tàng, thuộc nhiều lĩnh vực và thời đại khác nhau. Bảo tàng Nghệ thuật Quốc gia Catalonia sở hữu một bộ sưu tập nghệ thuật Romanesque nổi tiếng, trong khi Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Barcelona tập trung vào nghệ thuật của Catalan và Tây Ban Nha sau năm 1945. Các bảo tàng Fundació Joan Miró, Bảo tàng Picasso, và Fundació Antoni Tàpies lưu giữ những bộ sưu tập quan trọng của những nghệ sĩ nổi tiếng thế giới này. Ngoài ra còn có Bảo tàng Can Framis, thuộc sở hữu của Fundació Vila Casas, tập trung vào Nghệ thuật Catalan sau năm 1960.
Một số bảo tàng khác chuyên về lĩnh vực lịch sử và khảo cổ học, như Bảo tàng Lịch sử Thành phố Barcelona (MUHBA), Bảo tàng Lịch sử Catalonia, Bảo tàng Khảo cổ học Catalonia, Bảo tàng Hàng hải Barcelona, Bảo tàng Âm nhạc Barcelona và Bảo tàng Ai Cập Barcelona thuộc sở hữu tư nhân. Bảo tàng Khiêu dâm Barcelona là một trong những bảo tàng đặc biệt nhất, trong khi CosmoCaixa là một bảo tàng khoa học đã nhận được Giải thưởng Bảo tàng của Năm tại Châu Âu vào năm 2006.
Bảo tàng Toán học Catalonia là nơi toán học được tiếp cận từ góc độ thực tế và vui tươi. Bảo tàng Khoa học Tự nhiên Barcelona được thành lập vào năm 1882 với tên gọi "Museo Martorell de Arqueología y Ciencias Naturales" (tiếng Tây Ban Nha nghĩa là "Bảo tàng Khảo cổ học và Khoa học Tự nhiên Martorell"). Vào năm 2011, Bảo tàng Khoa học Tự nhiên được hình thành từ việc sáp nhập năm cơ sở: Bảo tàng Khoa học Tự nhiên Barcelona (cơ sở chính, tại Tòa nhà Forum), Bảo tàng Martorell (trụ sở lịch sử của Bảo tàng, mở cửa cho công chúng từ năm 1924 đến 2010 với tư cách là bảo tàng địa chất), Laboratori de Natura, tại Lâu đài Ba Con Rồng (từ năm 1920 đến 2010 là Bảo tàng Động vật học), Vườn Bách thảo Lịch sử Barcelona (thành lập năm 1930), và Vườn Bách thảo Barcelona (thành lập năm 1999). Hai khu vườn này cũng là một phần của Viện Bách thảo Barcelona.
Bảo tàng FC Barcelona là điểm thu hút khách du lịch nổi tiếng thứ ba ở Catalonia, với 1,51 triệu du khách vào năm 2013.[100]
Công viên
[sửa | sửa mã nguồn]
Barcelona có sáu mươi công viên thành phố, trong đó có mười hai công viên lịch sử, năm công viên chuyên đề (thực vật), bốn mươi lăm công viên đô thị, và sáu công viên rừng.[101] Quy mô của các công viên này rất đa dạng, từ những công viên nhỏ cho đến các khu vui chơi giải trí rộng lớn. Chỉ riêng các công viên đô thị đã chiếm 10% diện tích thành phố (549,7 ha).[101] Tổng diện tích công viên tăng thêm khoảng 10 ha mỗi năm,[102] với tỷ lệ 18,1 m² diện tích công viên trên mỗi người dân.
Trong số các công viên của Barcelona, Montjuïc là lớn nhất, với diện tích 203 ha nằm trên ngọn núi cùng tên, và bao gồm Vườn Bách thảo Barcelona, Vườn Mossèn Costa i Llobera, cùng nhiều khu vực khác. Tiếp theo là Công viên Ciutadella (nằm trên địa điểm của một thành cổ cũ và là nơi có tòa nhà Quốc hội, Sở thú Barcelona, cùng một vài bảo tàng; với diện tích 31 ha bao gồm cả sở thú), Công viên Guinardó (19 ha), Công viên Güell (do Antoni Gaudí thiết kế; 17,2 ha), Công viên Lâu đài Oreneta (cũng rộng 17,2 ha), Công viên Diagonal Mar (13,3 ha, khánh thành năm 2002), Công viên Trung tâm Nou Barris (13,2 ha), Công viên Thể thao Can Dragó và Công viên Poblenou (cả hai đều rộng 11,9 ha), và Công viên Mê cung (Labyrinth Park) (9,10 ha), được đặt tên theo khu vườn mê cung bên trong nó. Ngoài ra còn có một số công viên nhỏ hơn, ví dụ như Parc de Les Aigües (2 ha). Một phần của Công viên Collserola cũng nằm trong địa giới của thành phố.
PortAventura World, một trong những khu nghỉ dưỡng lớn nhất châu Âu với 5.837.509 du khách mỗi năm, nằm cách Barcelona một giờ lái xe. Ngoài ra, ngay trong thành phố còn có Công viên Giải trí Tibidabo, một công viên giải trí nhỏ tọa lạc ở Quảng trường Tibidabo, với trò tàu lượn siêu tốc Muntanya Russa.
Bãi biển
[sửa | sửa mã nguồn]
Bãi biển Barcelona được các tạp chí National Geographic và kênh Discovery Channel xếp hạng nhất trong danh sách mười bãi biển thành phố hàng đầu thế giới.[103][104] Barcelona có bảy bãi biển, với tổng chiều dài đường bờ biển là 4,5 km. Các bãi biển Sant Sebastià, Barceloneta và Somorrostro, mỗi bãi dài khoảng 1.100 m, là những bãi biển lớn nhất, lâu đời nhất và được ghé thăm nhiều nhất ở Barcelona. Bến cảng Olympic ngăn cách các bãi biển này với những bãi biển khác của thành phố: Nova Icària, Bogatell, Mar Bella, Nova Mar Bella và Llevant. Những bãi biển này (có chiều dài từ 400 đến 640 m) được mở ra nhờ vào việc tái quy hoạch thành phố để đăng cai Thế vận hội Mùa hè 1992, khi một số lượng lớn các công trình công nghiệp bị phá dỡ. Hiện tại, cát ở các bãi biển được bồi đắp nhân tạo vì các cơn bão thường xuyên cuốn đi một lượng lớn cát.
Chính quyền và các đơn vị hành chính
[sửa | sửa mã nguồn]Với tư cách là thủ phủ của cộng đồng tự trị Catalonia, Barcelona là nơi đặt trụ sở của chính quyền xứ Catalonia, được biết đến với tên gọi Generalitat de Catalunya. Các cơ quan quan trọng nhất gồm có nhánh hành pháp, quốc hội, và Tòa án Công lý Tối cao của Catalonia. Thành phố cũng là thủ phủ của tỉnh Barcelona và của comarca (tương đương cấp quận/huyện) Barcelonès.
Comissió de Govern (Ủy ban Chính phủ) là cơ quan hành pháp, bao gồm 24 ủy viên, do Thị trưởng lãnh đạo, cùng với 5 phó thị trưởng và 17 ủy viên hội đồng thành phố (mỗi người phụ trách một lĩnh vực của chính quyền), và 5 ủy viên không qua bầu cử. Hội đồng toàn thể, bao gồm tất cả 41 ủy viên, có các chức năng tư vấn, lập kế hoạch, điều tiết và tài chính.[105] Sáu Commissions del Consell Municipal (Ủy ban của Hội đồng thành phố) có chức năng hành pháp và kiểm soát trong phạm vi quyền hạn của mình. Các ủy ban này bao gồm một số lượng ủy viên tương ứng với tỷ lệ ghế mà mỗi đảng chính trị nắm giữ trong hội đồng toàn thể. Hội đồng thành phố có thẩm quyền trong các lĩnh vực quy hoạch đô thị, giao thông, thuế thành phố, an ninh trên đường phố công cộng thông qua Guàrdia Urbana (cảnh sát thành phố), bảo trì thành phố, vườn, công viên và môi trường, các cơ sở vật chất (như trường học, nhà trẻ, trung tâm thể thao, thư viện, v.v.), văn hóa, thể thao, thanh niên và phúc lợi xã hội. Một số thẩm quyền này không phải là độc quyền mà được chia sẻ với Generalitat de Catalunya hoặc chính phủ trung ương Tây Ban Nha. Trong một số lĩnh vực có trách nhiệm chung (như y tế công cộng, giáo dục hoặc dịch vụ xã hội), có một Cơ quan hoặc Hiệp hội chung giữa thành phố và Generalitat để lập kế hoạch và quản lý các dịch vụ.
Trụ sở của hội đồng thành phố nằm trên quảng trường Plaça de Sant Jaume, đối diện với trụ sở của chính quyền Catalonia. Kể từ khi nền dân chủ Tây Ban Nha được tái lập, Barcelona chủ yếu được điều hành bởi đảng PSC. Tuy nhiên, sau 32 năm, vào ngày 22 tháng 5 năm 2011, đảng CiU đã giành được đa số ghế trong cuộc bầu cử thành phố, họ dành được 15 ghế so với 11 ghế của PSC. Đảng PP giữ 8 ghế, ICV 5 ghế và ERC 2 ghế.
Các quận
[sửa | sửa mã nguồn]
Kể từ năm 1987, thành phố đã được chia thành 10 quận hành chính (districtes trong tiếng Catalan, distritos trong tiếng Tây Ban Nha):
- Ciutat Vella
- Eixample
- Sants-Montjuïc
- Les Corts
- Sarrià-Sant Gervasi
- Gràcia
- Horta-Guinardó
- Nou Barris
- Sant Andreu
- Sant Martí
Các quận này chủ yếu được phân chia dựa trên các ranh giới lịch sử. Một vài trong số đó từng là các thị trấn cũ được sáp nhập vào thành phố Barcelona trong thế kỷ 18 và 19 và vẫn giữ được những nét đặc trưng riêng biệt. Mỗi quận có một hội đồng riêng do một ủy viên hội đồng thành phố lãnh đạo. Thành phần của mỗi hội đồng quận phụ thuộc vào số phiếu mà mỗi đảng chính trị nhận được tại quận đó, vì vậy một quận có thể được lãnh đạo bởi một ủy viên từ một đảng khác với hội đồng hành pháp của thành phố.
Văn hóa
[sửa | sửa mã nguồn]Cội nguồn văn hóa của Barcelona đã có từ 2000 năm trước. Kể từ khi nền dân chủ được thiết lập trở lại, tiếng Catalan (vốn bị đàn áp nặng nề dưới chế độ độc tài của Franco) đã được thúc đẩy, thông qua cả việc khôi phục các tác phẩm trong quá khứ và khuyến khích sáng tạo các tác phẩm mới.
Giải trí và nghệ thuật biểu diễn
[sửa | sửa mã nguồn]
Barcelona có nhiều địa điểm tổ chức nhạc sống và sân khấu, bao gồm nhà hát opera nổi tiếng thế giới Gran Teatre del Liceu, nhà hát Teatre Nacional de Catalunya, nhà hát Teatre Lliure và phòng hòa nhạc Palau de la Música Catalana. Barcelona cũng là nơi có Dàn nhạc Giao hưởng Barcelona và Dàn nhạc Quốc gia Catalonia (Orquestra Simfònica de Barcelona i Nacional de Catalunya, thường được biết đến với tên OBC), dàn nhạc giao hưởng lớn nhất ở Catalonia. Vào năm 1999, OBC đã khánh thành địa điểm biểu diễn mới của mình tại Thính phòng (L'Auditori) hoàn toàn mới. Dàn nhạc biểu diễn khoảng 75 buổi hòa nhạc mỗi mùa và giám đốc hiện tại là Eiji Oue.[106] Đây cũng là nơi có Dàn nhạc Ghi-ta Barcelona, do Sergi Vicente chỉ huy. Đại lộ chính La Rambla là nơi quy tụ các nghệ sĩ kịch câm và nghệ sĩ đường phố. Hàng năm, có hai lễ hội nhạc pop lớn diễn ra trong thành phố, đó là Lễ hội Sónar và Lễ hội Primavera Sound. Thành phố cũng có một nền âm nhạc alternative (nhạc độc lập/thay thế) phát triển mạnh, với các nhóm nhạc như The Pinker Tones đã thu hút được sự chú ý của quốc tế.[107]
Barcelona là một trung tâm quốc tế của cuộc sống về đêm vô cùng sôi động và đa dạng, với vô số các quán bar, quán bar-sàn nhảy và câu lạc bộ đêm mở cửa đến tận quá nửa đêm.[108]
Truyền thông
[sửa | sửa mã nguồn]El Periódico de Catalunya, La Vanguardia và Ara là ba nhật báo lớn của Barcelona (hai tờ đầu có cả ấn bản tiếng Catalan và tiếng Tây Ban Nha, còn tờ Ara chỉ có tiếng Catalan), trong khi Sport và El Mundo Deportivo (cả hai đều bằng tiếng Tây Ban Nha) là hai nhật báo thể thao lớn của thành phố, được xuất bản bởi cùng các công ty. Thành phố cũng có một số ấn phẩm nhỏ hơn như Ara và El Punt Avui (bằng tiếng Catalan), các tờ báo toàn quốc có ấn bản đặc biệt cho Barcelona như El País (bằng tiếng Tây Ban Nha, với phiên bản trực tuyến bằng tiếng Catalan) và El Mundo (bằng tiếng Tây Ban Nha), cùng một số tờ báo miễn phí như 20 minutos và Què (tất cả đều song ngữ).
Một số đài phát thanh FM lớn bao gồm Catalunya Ràdio, RAC 1, RAC 105 và Cadena SER. Barcelona cũng có một đài truyền hình địa phương là Betevé, do hội đồng thành phố sở hữu. Trụ sở của Televisió de Catalunya, đài truyền hình công cộng của Catalonia, được đặt tại Sant Joan Despí, trong vùng đô thị Barcelona.
Thể thao
[sửa | sửa mã nguồn]

Barcelona có truyền thống thể thao lâu đời và đã tổ chức rất thành công Thế vận hội Mùa hè 1992 cũng như một số trận đấu trong khuôn khổ FIFA World Cup 1982 (tại hai sân vận động). Thành phố đã đăng cai khoảng 30 sự kiện thể thao mang tầm cỡ quốc tế.
FC Barcelona là một câu lạc bộ thể thao nổi tiếng toàn thế giới với đội bóng đá của mình, một trong những đội bóng lớn nhất và giàu thành tích nhất thế giới, với năm chiếc cúp UEFA Champions League sau tám lần vào chung kết và ba lần vô địch FIFA Club World Cup sau bốn lần vào chung kết. Câu lạc bộ này đã giành sáu chiếc cúp trong một năm dương lịch vào năm 2009, trở thành một trong hai đội bóng đá nam duy nhất trên thế giới giành được cú ăn sáu đáng mơ ước, bên cạnh FC Bayern Munich vào năm 2020. FC Barcelona cũng có các đội chuyên nghiệp ở các môn thể thao khác như FC Barcelona Regal (bóng rổ), FC Barcelona Handbol (bóng ném), FC Barcelona Hoquei (khúc côn cầu trên giày trượt), FC Barcelona Ice Hockey (khúc côn cầu trên băng), FC Barcelona Futsal (bóng đá trong nhà) và FC Barcelona Rugby (bóng bầu dục liên hiệp), tất cả đều từng giành chức vô địch quốc gia hoặc châu Âu ở cấp độ cao nhất. Bảo tàng của câu lạc bộ bóng đá FC Barcelona là nơi được tham quan nhiều thứ hai ở Catalonia. Các trận đấu bóng đá với đối thủ cùng thành phố RCD Espanyol luôn đặc biệt được quan tâm, nhưng cũng có các câu lạc bộ bóng đá khác ở Barcelona thi đấu ở các hạng thấp hơn, như CE Europa và UE Sant Andreu. Đội bóng rổ của FC Barcelona có một sự cạnh tranh đáng chú ý tại giải Liga ACB với đội bóng láng giềng Joventut Badalona.
Barcelona có ba sân vận động đạt chuẩn UEFA elite: Camp Nou của FC Barcelona, sân vận động lớn nhất châu Âu với sức chứa 99.354 người; Estadi Olímpic Lluís Companys thuộc sở hữu công, với sức chứa 55.926 người, được sử dụng cho Thế vận hội 1992; và Estadi Cornellà-El Prat, với sức chứa 40.500 người. Ngoài ra, thành phố còn có một số sân vận động nhỏ hơn như Mini Estadi (cũng thuộc sở hữu của FC Barcelona) với sức chứa 15.000 người, Camp Municipal Narcís Sala với sức chứa 6.563 người và Nou Sardenya với sức chứa 7.000 người. Thành phố còn có ba địa điểm đa năng khác cho thể thao và hòa nhạc: Palau Sant Jordi với sức chứa từ 12.000 đến 24.000 người (tùy thuộc vào mục đích sử dụng), Palau Blaugrana với sức chứa 7.500 người, và Palau dels Esports de Barcelona với sức chứa 3.500 người.
Barcelona là thành phố đăng cai Giải vô địch Thể thao dưới nước Thế giới 2013, được tổ chức tại Palau Sant Jordi.

Nhiều cuộc thi chạy bộ đường trường được tổ chức quanh năm tại Barcelona: Barcelona Marathon vào mỗi tháng Ba với hơn 10.000 người tham gia vào năm 2010, Cursa de Bombers vào tháng Tư, Cursa de El Corte Inglés vào tháng Năm (với khoảng 60.000 người tham gia mỗi năm), Cursa de la Mercè, Cursa Jean Bouin, Milla Sagrada Família và San Silvestre. Ngoài ra còn có giải Ultratrail Collserola, một cuộc chạy siêu địa hình dài 85 km (53 dặm) xuyên qua khu rừng Collserola. Giải Open Seat Godó, một giải đấu quần vợt thuộc hệ thống ATP World Tour 500 Series đã có lịch sử 50 năm, được tổ chức hàng năm tại cơ sở của Real Club de Tenis Barcelona. Vào mỗi Ngày Giáng sinh, một cuộc thi bơi 200 mét băng qua Cảng Cũ của Barcelona được diễn ra. Gần Barcelona, tại Montmeló, đường đua Circuit de Barcelona-Catalunya với sức chứa 107.000 người là nơi tổ chức giải Grand Prix Tây Ban Nha của Công thức 1, giải Grand Prix mô tô Catalan, Giải vô địch GT Tây Ban Nha và các cuộc đua trong khuôn khổ GP2 Series. Trượt ván và đạp xe cũng rất phổ biến ở Barcelona; trong và xung quanh thành phố có hàng chục kilômét đường dành cho xe đạp.
Hình ảnh
[sửa | sửa mã nguồn]-
Đường La Rambla, Barcelona
-
Giáo đường Sagrada Família
-
Barcelona
-
Bãi biển Barcelona
-
Sân vận động Camp Nou
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ "Annual population census 2021-2024". INE.
- ^ Emilia Istrate; Carey Anne Nadeau (ngày 30 tháng 11 năm 2012). "Brookings analysis of data from Oxford Economics, Moody's Analytics, and the U.S. Census Bureau". Brookings Global MetroMonitor. Brookings Institution. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2014.
- ^ Servei d'Arqueologia of Institut de Cultura de Barcelona. "Caserna de Sant Pau del Camp". CartaArqueologica (bằng tiếng Tây Ban Nha). Ajuntament de Barcelona. tr. Description and Historical Notes. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2016.
- ^ MM Montaña; OV Campos; R Farré (2008). "Study of the Neolithic Excavation Site of the Sant Pau del Camp Barracks". Quarhis. Quyển II số 4. tr. 3. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2016.
- ^ Oros. vii. 143; Miñano, Diccion. vol. i. p. 391; Auson. Epist. xxiv. 68, 69, Punica Barcino.
- ^ P.F. Collier & Son Corporation (1957). Collier's Encyclopedia. Collier. tr. 48.
- ^ "Roman walls, Barcelona". Bluffton.edu. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2009.
- ^ Welcome page in Catalan Lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2019 tại Wayback Machine, Cathedral of Barcelona, (bằng tiếng Catalunya). There is an English version of this page and website, as well as a Spanish one, but the word seu seems to be explained better in the Catalan version... [Retrieved 14 September 2019].
- ^ "Seu" Lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2015 tại Wayback Machine, entry in the Diccionari Alcover-Moll, (bằng tiếng Catalunya). [Retrieved 14 September 2019].
- ^ "GSM Barcelona - Barcelona History". GSM Barcelona (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2022.
- ^ The Usatges of Barcelona: The Fundamental Law of Catalonia, ed. Donald J. Kagay, (University of Pennsylvania Press, 1994), 7.
- ^ Collins, Roger (2012). Caliphs and Kings, 796–1031. Blackwell Publishing, p. 191.
- ^ Bisson, T. N. (1986). "II. The age of the Early Count-Kings (1137–1213) (The Principate of Ramon Berenguer IV 1137–1162)". Trong Clarendon Press – Oxford (biên tập). The medieval Crown of Aragon. A short story. tr. 31. ISBN 978-0-19-820236-3.
- ^ Cateura Benàsser, Pau (2006). Els impostos indirectes en el regne de Mallorca (PDF). Editorial El Tall. ISBN 978-84-96019-28-7. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2008. El Tall dels Temps, 14. (Palma de) Mallorca: El Tall, 1996.
- ^ González Arévalo (2019). "La esclavitud en la España Medieval. (siglos XIV-XV). Generalidades y rasgos diferenciales". Millars. Espai I Història (47). Castellón de la Plana: Universitat Jaime I: 16–17. ISSN 1132-9823. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020.
- ^ The Bankers Magazine, volume 11, page 595, J. Smith Homans Jr., New York 1857.
- ^ Arranz, Manuel; Grau, Ramon (1991). "L' economia urbana de Barcelona i la Guerra de Successió". Recerques: Història, economia, cultura. 24: 117. ISSN 0210-380X.
- ^ Payne, Stanley G. Chapter 15: A History of Spain and Portugal, [liên kết hỏng]
- ^ Ringrose, David R. (1998). "Historia urbana y urbanización en la España moderna". Hispania. 58 (1999). Madrid: Consejo Superior de Investigaciones Científicas: 510. doi:10.3989/hispania.1998.v58.i199.645. ISSN 1988-8368.
- ^ Burgen, Stephen (ngày 13 tháng 3 năm 2023). "Catalonia confronts past racism after slave trade documentary". The Guardian.
- ^ Bausells, Marta (ngày 1 tháng 4 năm 2016). "Story of cities #13: Barcelona's unloved planner invents science of 'urbanisation'". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
- ^ Roberts, David (ngày 8 tháng 4 năm 2019). "Barcelona's remarkable history of rebirth and transformation". Vox (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2023.
- ^ MHCB, City Council of Barcelona, Institute of Culture, SECC (2006). Juan Negrín 1892–1956. Barcelona, capital de la República. Barcelona. ISBN 84-96411-13-3. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2018.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết) Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết) - ^ Canal, Jordi (2015). Historia mínima de Cataluña. Madrid: Turner Publicaciones S.L. ISBN 978-84-16142-08-8.
- ^ "Barcelona (Spain)". Encyclopædia Britannica. Lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2013 tại Wayback Machine
- ^ Taylor, Adam (ngày 26 tháng 7 năm 2012). "How The Olympic Games Changed Barcelona Forever". Business Insider. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2017.
- ^ Usborne, Simon (ngày 18 tháng 8 năm 2008). "After The Party: What happens when the Olympics leave town". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2017.
- ^ Brunet i Cid, Ferran (2002). "The economic impact of the Barcelona Olympic Games" (PDF). Universitat Autònoma de Barcelona. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2017.
- ^ "Legacies of the Games" (PDF). International Olympic Committee. tháng 12 năm 2013. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2017.
- ^ Mock, Steven (ngày 29 tháng 12 năm 2011). Symbols of Defeat in the Construction of National Identity. Cambridge University Press. tr. 274. ISBN 978-1-139-50352-5. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2017.
- ^ Friend, Julius W. (ngày 19 tháng 6 năm 2012). Stateless Nations: Western European Regional Nationalisms and the Old Nations. Palgrave Macmillan. tr. 97. ISBN 978-0-230-36179-9. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2017.
- ^ Parkin, James; D. Sharma (ngày 1 tháng 1 năm 1999). Infrastructure Planning. Thomas Telford. tr. 173. ISBN 978-0-7277-2747-3. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2017.
- ^ Abebe, Ngiste; Mary Trina Bolton; Maggie Pavelka; Morgan Pierstorff (ngày 19 tháng 11 năm 2013). Bidding for Development: How the Olympic Bid Process Can Accelerate Transportation Development. Springer. tr. 3. ISBN 978-1-4614-8912-2. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2017.
- ^ The proportion of the population born outside of Spain rose from 3.9% in 2001 to 13.9% in 2006. "Guies Estadístiques: Barcelona en Xifres" (PDF). Ajuntament de Barcelona. tháng 11 năm 2006. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2010.
- ^ List of Busan's sister cities, Busan Metropolitan City; (bằng tiếng Anh) [1] Lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2008 tại Wayback Machine, (bằng tiếng Hàn Quốc) [2] Lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2008 tại Wayback Machine
- ^ "São Paulo – Sister Cities Program". 2005–2008 Fiscolegis – Todos os direitos reservados Editora de publicações periodicas – LTDA / 2008 City of São Paulo. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2008.
- ^ "International Relations – São Paulo City Hall – Official Sister Cities". Prefeitura.sp.gov.br. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Noticias - Sevilla Y Barcelona Colaborarán Estrechamente Para Difundir Los Valores Del Fórum". Noticias.info. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2011.
- ^ "SF, Barcelona Sign Sister-City Pact". cbs5.com. ngày 19 tháng 7 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010.
- ^ "Miasta partnerskie i zaprzyjaźnione – Twin cities and partnerships". Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2010.
- ^ "Sister City, Friendly City, Friendship & Cooperation City" (bằng tiếng Nhật). 2007–2009 City of Kobe. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2009.
{{Chú thích web}}: Liên kết ngoài trong(trợ giúp)|nhà xuất bản= - ^ "Sister Cities of Istanbul". Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2009.
- ^ Erdem, Selim Efe (ngày 1 tháng 7 năm 2009). "İstanbul'a 49 kardeş" (bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ). Radikal. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2009.
49 sister cities in 2003
- ^ "Dublin City Council: Facts about Dublin City". 2006–2009 Dublin City Council. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2009.
- ^ daenet d.o.o. "Sarajevo Official Web Site: Sister cities". Sarajevo.ba. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2009.
- ^ Twinning Cities Agreements Lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2013 tại Wayback Machine UAE Official Website
- ^ UAEinteract.com. "Twinning agreement brings a taste of Spain to Dubai UAE – The Official Web Site – News". Uaeinteract.com. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2009.
- ^ "Barcelona team arrives". The Hindu. ngày 10 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2009.
- ^ "Kerala capital to get a cousin in Europe". arabnews. ngày 10 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2009.
- ^ "Province eyes investors from Spain – INQUIRER.net, Philippine News for Filipinos". globalnation.inquirer.net. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2010.
- ^ "CÁC ĐỊA PHƯƠNG NƯỚC NGOÀI ĐÃ THIẾT LẬP QUAN HỆ HỮU NGHỊ HỢP TÁC VỚI Thành phố Hồ Chí Minh". www.mofahcm.gov.vn. ngày 9 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2011.
- ^ "Servei Meteorològic de Catalunya". Meteo.cat. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2009.
- ^ "World Map of Köppen−Geiger Climate Classification". Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2014.
- ^ "Barcelona Can Bruixa - climate (1987-2010)" (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016.
- ^ "Guía resumida del clima en España (1981-2010)" (bằng tiếng Tây Ban Nha).
- ^ "INEbase. Alterations to the municipalities in the Population Censuses since 1842" (bằng tiếng Tây Ban Nha). National Statistics Institute.
- ^ Population on 1 January by broad age group, sex and metropolitan regions Lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2016 tại Wayback Machine – Eurostat, 2017
- ^ "Ajuntament de Barcelona: Estadística: Evolució de la població. 1900–2005". Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2010.
- ^ Departament d'Estadística. Ajuntament de Barcelona (2011). "Coneixement del català: Evolució de les característiques de la població de Barcelona (Knowledge of Catalan in Barcelona)". Ajuntament de Barcelona (bằng tiếng Catalan). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2015.
- ^ Barcelona Metròpolis (tháng 3 năm 2016). "The potential of the multilingual city". Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2023.
- ^ "Ajuntament de Barcelona – Population, household and homes statistics" Lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2017 tại Wayback Machine, retrieved 12 June 2017.
- ^ Sian Preece (2016). The Routledge Handbook of Language and Identity. Routledge. tr. 513.
- ^ "Barcelona's Pakistani community" Lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2017 tại Wayback Machine, retrieved 12 June 2017.
- ^ Conte-Helm, Marie. The Japanese and Europe: Economic and Cultural Encounters. (Bloomsbury Academic Collections). A&C Black, 17 December 2013. ISBN 1780939809, 9781780939803. p. 111 Lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2017 tại Wayback Machine.
- ^ Barcelona (ngày 4 tháng 6 năm 2007). "La mitad de las mezquitas de Catalunya están en Barcelona". 20minutos.es. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2015.
- ^ Digital, Protestante (ngày 7 tháng 7 năm 2011). "España experimenta retroceso en catolicismo – El Mundo – Mundo Cristiano". CBN.com. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2015.
- ^ CIS (tháng 7 năm 2019). "Postelectoral Elecciones Autonómicas y municipales 2019. Barcelona (Municipio de)" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2019.
- ^ "Estudio demográfico de la población musulmana" (PDF). Unión de Comunidades Islámicas de España. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2015.
- ^ "The Jewish Virtual History Tour: Barcelona". Jewishvirtuallibrary.org. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2012.
- ^ "Barcelona: Directory: Theme: Religion". W3.bcn.es. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Orthodox Church in Catalonia". Orthodoxengland.org.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2014.
- ^ "Global city GDP rankings 2008–2025". Pricewaterhouse Coopers. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2009.[liên kết hỏng]
- ^ Urban Audit – CityProfiles: Barcelona – Eurostat, 2004 Lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2013 tại Wayback Machine
- ^ "The Monocle Quality of Life Survey 2015". Monocle. 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2017.
- ^ "Independent city analysis and rankings for innovation in 2009". 2thinknow. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2009.
- ^ "A Luxury Lifestyle Is More Affordable In Spain Than Almost Anywhere Else In The World, Finds New Report". Gua. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2020.
- ^ "Barcelona, recognised as the top Southern European city with future economic potential". Barcelona Growth. ngày 5 tháng 3 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2014.
- ^ "European Cities and Regions of the Future 2014/15". fDi Magazine. ngày 17 tháng 2 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2014.
- ^ "Top 100 Cities Destination Ranking". connectingtravel.com. ngày 13 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2025.
- ^ "Los 10 mejores hoteles en Barcelona 2016 – TripAdvisor – Precios y opiniones". tripadvisor.es. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2016.
- ^ "10 mejores hoteles de 5 estrellas en Barcelona – TripAdvisor". tripadvisor.es. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2016.
- ^ "20 Of The Safest Cities In The World". Business Insider. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2016.
- ^ "The 15 safest cities in the world". Business Insider. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2016.
- ^ Burgen, Stephen (ngày 25 tháng 6 năm 2018). "'Tourists go home, refugees welcome': why Barcelona chose migrants over visitors". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2018.
- ^ a b Coffey, Helen (ngày 15 tháng 5 năm 2017). "Eight Places That Hate Tourists the Most". The Independent. London. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2018.
- ^ Hunt, Ellen (ngày 17 tháng 7 năm 2018). "Residents in tourism hotspots have had enough. So what's the answer?". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2018.
- ^ "Spain tourism: The protesters and residents pushing back on tourism in Barcelona". www.bbc.com (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2025.
- ^ "Protesters in Spain shoot water guns at tourists in demonstration against mass tourism, housing costs". CBS News (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2025.
- ^ "Valor afegit brut a preus bàsics. Base 2000 Per sectors (%)" (en: "Gross value added at basic prices. Base by sector (%)") Lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2014 tại Wayback Machine – Idescat, 2008
- ^ "Valor afegit brut. Indústria per branques d'activitat (%)" (en: "Gross Value Added. Branches of industry (%)") Lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2014 tại Wayback Machine – Idescat, 2008
- ^ "NISSAN |CORPORATE INFORMATION |Outline of Company |Facilities Overseas |Europe". Nissan-global.com. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2014.
- ^ "Cómo llegar". Derbi. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2014.
- ^ Blanco, Leticia (ngày 20 tháng 1 năm 2009). "La feria de moda urbana Bread and Butter deja Barcelona". El Mundo. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2009.
- ^ EFE (ngày 23 tháng 1 năm 2009). "El presidente del Bread&Butter confirma oficialmente que la feria abandona Barcelona". El Periódico. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2009.
[Karl Heinz Muller, the entrepreneur behind B&B in announcing the move in a press conference held on January 23, 2009 said] No llores Barcelona, levántate y haz algo [don't cry Barcelona, get up and do something about it] Barcelona in Europe is a metropolis of fashion.
- ^ "Paris Towers Over World of Fashion as Top Global Fashion Capital for 2015", retrieved 12 June 2017.
- ^ "Startup Ecosystem Report 2025". www.startupblink.com. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2025.
- ^ "Gaudí's Barcelona Basilica, La Sagrada Família, Reaches Its Final Stage of Construction – The Atlantic". The Atlantic. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017.
- ^ Witold Rybczynski (2001). The Look of Architecture. Oxford University Press. tr. 94–. ISBN 978-0-19-515633-1.
- ^ "RIBA Royal Gold Medallists" (PDF). RIBA. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2014.
- ^ "Catalan museums received 21.5 million visitors in 2013". www.catalannews.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2021.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
- ^ a b Parcs i Jardins, Institut Municipal. "Parcs i Jardins> Els Parcs> Els Parcs de Barcelona". Bcn.es. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2010.
- ^ Parcs i Jardins, Institut Municipal. "Parcs i Jardins> Els Parcs> Història> La ciutat i el verd". Bcn.es. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Top 10 Beach Cities". ngày 8 tháng 7 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2010.
- ^ Movie "Worlds Best Beaches", Discovery Channel 2005 Video trên YouTube
- ^ "Ajuntament de Barcelona> Ajuntament> El Govern de la Ciutat". W3.bcn.es. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2010.
- ^ "L'Auditori: OBC". Auditori.org. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2010.
- ^ Roberts, Nina (ngày 6 tháng 8 năm 2006). "Catalan Musical Stew Keeps Barcelona Up All Night – New York Times". Barcelona (Spain): Travel.nytimes.com. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2009.
- ^ "Barcelona Never Sleeps". The Hoya. ngày 23 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2022.