...Allow Us to Be Frank
...Allow Us to Be Frank là album phòng thu thứ năm của nhóm nhạc nam người Ireland Westlife, phát hành vào ngày 8 tháng 11 năm 2004 bởi RCA Records và Sony BMG. Đây là album đầu tiên của nhóm với đội hình bốn thành viên, sau khi thành viên Brian McFadden rời nhóm chỉ ba tuần trước khi bắt đầu chuyến lưu diễn quảng bá cho album phòng thu trước Turnaround (2003). Khác với những đĩa nhạc trước với phong cách pop chủ đạo, ...Allow Us to Be Frank là album hát lại nhằm tri ân đến Rat Pack, một nhóm ca sĩ nổi tiếng ở cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950. Đĩa nhạc có sự tham gia sản xuất từ cộng tác viên quen thuộc của họ Steve Mac, kết hợp cùng dàn nhạc 60 nhạc cụ tại Phòng thu Phoenix ở Wembley, thuộc Khu Brent của Luân Đôn. Đĩa nhạc là tập hợp những bản nhạc nổi tiếng qua phần thể hiện của Frank Sinatra, Nat King Cole, Dean Martin và Tony Bennett. Trước khi phát hành ...Allow Us to Be Frank, Westlife thực hiện chiến dịch tìm kiếm "người hâm mộ hoàn hảo" để quảng bá album. Sau những buổi thử giọng mang phong cách X Factor, họ chọn ra Joanne Hindley để thu âm "The Way You Look Tonight" với cô. Album đa phần nhận được những phản ứng từ trái chiều đến tiêu cực của các nhà phê bình âm nhạc, với phần lớn ý kiến cho rằng đây là một đĩa nhạc hát lại an toàn, thiếu cảm hứng và không đem lại sức hút như bản gốc. ...Allow Us to Be Frank cũng gặt hái thành công tương đối về mặt thương mại khi lọt vào top 10 tại một số quốc gia, bao gồm vươn đến top 5 tại những thị trường nổi bật như Ireland, Scotland, Singapore và Thụy Điển. Tại Vương quốc Anh, đĩa nhạc ra mắt ở vị trí thứ ba và trở thành album thứ sáu liên tiếp của nhóm nằm trong top 5, nhưng lại là album đầu tiên của nhóm kể từ Westlife (1999) không đạt ngôi vị quán quân. Không có đĩa đơn nào từ ...Allow Us to Be Frank được phát hành tại Vương quốc Anh, trong khi "Smile", "Fly Me to the Moon" và "Ain't That a Kick in the Head" lần lượt được ra mắt dưới dạng đĩa đơn vật lý ở một số quốc gia châu Âu. Để quảng bá album, Westlife trình diễn trên nhiều chương trình truyền hình và lễ trao giải lớn, như CD:UK, This Morning, Strictly Come Dancing, The Record of the Year năm 2004 và giải thưởng Âm nhạc Thế giới năm 2004, cũng như thực hiện chuyến lưu diễn The No 1's Tour với 50 đêm diễn tại Châu Âu, Châu Á và Châu Phi. Ngoài ra, quá trình tìm kiếm người hâm mộ của nhóm cũng được ghi lại thành chương trình truyền hình trên ITV mang tên She's The One, do Kate Thornton dẫn chương trình. ...Allow Us to Be Frank là album bán chạy thứ 24 trong năm 2004 tại Vương quốc Anh, và tính đến nay đã bán được hơn 653,405 bản tại đây.
| ...Allow Us to Be Frank | ||||
|---|---|---|---|---|
![]() | ||||
| Album phòng thu của Westlife | ||||
| Phát hành | 8 tháng 11 năm 2004 | |||
| Thu âm | 2004 | |||
| Thể loại | Big band | |||
| Thời lượng | 39:21 | |||
| Hãng đĩa | ||||
| Sản xuất | Steve Mac | |||
| Thứ tự album của Westlife | ||||
| ||||
| Đĩa đơn từ ...Allow Us to Be Frank | ||||
| ||||
...Allow Us to Be Frank là album phòng thu thứ năm của nhóm nhạc nam người Ireland Westlife, phát hành vào ngày 8 tháng 11 năm 2004 bởi RCA Records và Sony BMG. Đây là album đầu tiên của nhóm với đội hình bốn thành viên, sau khi thành viên Brian McFadden rời nhóm chỉ ba tuần trước khi bắt đầu chuyến lưu diễn quảng bá cho album phòng thu trước Turnaround (2003). Khác với những đĩa nhạc trước với phong cách pop chủ đạo, ...Allow Us to Be Frank là album hát lại nhằm tri ân đến Rat Pack, một nhóm ca sĩ nổi tiếng ở cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950. Đĩa nhạc có sự tham gia sản xuất từ cộng tác viên quen thuộc của họ Steve Mac, kết hợp cùng dàn nhạc 60 nhạc cụ tại Phòng thu Phoenix ở Wembley, thuộc Khu Brent của Luân Đôn. Đĩa nhạc là tập hợp những bản nhạc nổi tiếng qua phần thể hiện của Frank Sinatra, Nat King Cole, Dean Martin và Tony Bennett.
Trước khi phát hành ...Allow Us to Be Frank, Westlife thực hiện chiến dịch tìm kiếm "người hâm mộ hoàn hảo" để quảng bá album. Sau những buổi thử giọng mang phong cách X Factor, họ chọn ra Joanne Hindley để thu âm "The Way You Look Tonight" với cô. Album đa phần nhận được những phản ứng từ trái chiều đến tiêu cực của các nhà phê bình âm nhạc, với phần lớn ý kiến cho rằng đây là một đĩa nhạc hát lại an toàn, thiếu cảm hứng và không đem lại sức hút như bản gốc. ...Allow Us to Be Frank cũng gặt hái thành công tương đối về mặt thương mại khi lọt vào top 10 tại một số quốc gia, bao gồm vươn đến top 5 tại những thị trường nổi bật như Ireland, Scotland, Singapore và Thụy Điển. Tại Vương quốc Anh, đĩa nhạc ra mắt ở vị trí thứ ba và trở thành album thứ sáu liên tiếp của nhóm nằm trong top 5, nhưng lại là album đầu tiên của nhóm kể từ Westlife (1999) không đạt ngôi vị quán quân.
Không có đĩa đơn nào từ ...Allow Us to Be Frank được phát hành tại Vương quốc Anh, trong khi "Smile", "Fly Me to the Moon" và "Ain't That a Kick in the Head" lần lượt được ra mắt dưới dạng đĩa đơn vật lý ở một số quốc gia châu Âu. Để quảng bá album, Westlife trình diễn trên nhiều chương trình truyền hình và lễ trao giải lớn, như CD:UK, This Morning, Strictly Come Dancing, The Record of the Year năm 2004 và giải thưởng Âm nhạc Thế giới năm 2004, cũng như thực hiện chuyến lưu diễn The No 1's Tour với 50 đêm diễn tại Châu Âu, Châu Á và Châu Phi. Ngoài ra, quá trình tìm kiếm người hâm mộ của nhóm cũng được ghi lại thành chương trình truyền hình trên ITV mang tên She's The One, do Kate Thornton dẫn chương trình. ...Allow Us to Be Frank là album bán chạy thứ 24 trong năm 2004 tại Vương quốc Anh, và tính đến nay đã bán được hơn 653,405 bản tại đây.
Danh sách bài hát
[sửa | sửa mã nguồn]| ...Allow Us to Be Frank – Phiên bản tiêu chuẩn | |||
|---|---|---|---|
| STT | Nhan đề | Sáng tác | Thời lượng |
| 1. | "Ain't That a Kick in the Head" | Sammy Cahn, Jimmy Van Heusen | 2:27 |
| 2. | "Fly Me to the Moon" | Bart Howard | 2:31 |
| 3. | "Smile" | Charles Chaplin, Geoffrey Parsons, John Turner | 2:50 |
| 4. | "Let There Be Love" | Ian Grant, Lionel Rand | 2:45 |
| 5. | "The Way You Look Tonight" (với Joanne Hindley) | Jerome Kern, Dorothy Fields | 4:07 |
| 6. | "Come Fly with Me" | Cahn, Van Heusen | 3:15 |
| 7. | "Mack the Knife" | Marc Blitzstein, Bertolt Brecht, Kurt Weill | 3:10 |
| 8. | "I Left My Heart in San Francisco" | George Cory, Douglas Cross | 2:59 |
| 9. | "Summer Wind" | Hans Bradtke, Henry Mayer, Johnny Mercer | 2:58 |
| 10. | "Clementine" | Woody Harris, Percy Montrose | 3:19 |
| 11. | "When I Fall in Love" | Edward Heyman, Victor Young | 3:09 |
| 12. | "Moon River" | Mercer, Henry Mancini | 2:40 |
| 13. | "That's Life" | Kelly Gordon, Dean Kay | 3:13 |
| Tổng thời lượng: | 39:21 | ||
| ...Allow Us to Be Frank – Phiên bản tại Nhật Bản (bản nhạc bổ sung) | |||
|---|---|---|---|
| STT | Nhan đề | Sáng tác | Thời lượng |
| 14. | "The Way You Look Tonight" (phiên bản chỉ có Westlife) | Kern, Fields | 3:45 |
| 15. | "Ain't That a Kick in the Head" (video ca nhạc) | Cahn, Van Heusen | 2:30 |
Xếp hạng
[sửa | sửa mã nguồn]
Xếp hạng tuần[sửa | sửa mã nguồn]
|
Xếp hạng cuối năm[sửa | sửa mã nguồn]
|
Chứng nhận
[sửa | sửa mã nguồn]| Quốc gia | Chứng nhận | Số đơn vị/doanh số chứng nhận |
|---|---|---|
| Anh Quốc (BPI)[16] | 2× Bạch kim | 653,405[15] |
|
* Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ. | ||
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ "ultratop.be – Westlife – Allow Us To Be Frank". ultratop.be (bằng tiếng Hà Lan). ULTRATOP & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2011.
- ^ "danishcharts.dk – Westlife – Allow Us To Be Frank". danishcharts.dk. Hung Medien. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2011.
- ^ "dutchcharts.nl – Westlife – Allow Us To Be Frank". dutchcharts.nl (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2011.
- ^ "Hits of the World - Eurochart Hot 100" (PDF). Billboard. Nielsen Business Media, Inc. ngày 27 tháng 11 năm 2004. tr. 45. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2024.
- ^ "Chartverfolgung / Westlife / Longplay" (bằng tiếng Đức). Media Control GfK International. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2011.
- ^ "Irish Music Charts Archive: Top 75 Artist Album, Week Ending 11 November 2004". GFK Chart-Track. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2011.
- ^ "ウエストライフのCDアルバムランキング │オリコン芸能人事典-ORICON STYLE". Oricon.co.jp. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2014.
- ^ "Chart Stats – Westlife – Allow Us To Be Frank". OCC. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2011.
- ^ "RIAS CHART FOR WEEK ENDING 19 November 2004". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2004. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2023.
- ^ "swedishcharts.com – Westlife – Allow Us To Be Frank". swedishcharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2011.
- ^ "Westlife – Allow Us To Be Frank – swisscharts.com |". swisscharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2011.
- ^ "The Official Charts Company – Westlife – Allow Us To Be Frank". Official Charts Company. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2011.
- ^ "Årslista Album – År 2004" (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2020.
- ^ "End of Year Albums 2004". Official Charts Company. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2011.
- ^ "Albums 24.12.05: Westlife". Music Week (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 12 năm 2005. ProQuest 232232948. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2022.
- ^ "Chứng nhận album Anh Quốc – Westlife – Allow Us to Be Frank" (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2021.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- ...Allow Us to Be Frank trên Discogs (danh sách phát hành)
